Thứ Ba, 24 tháng 1, 2012

(chuyên đề giám tuyển) 10 GIÁM TUYỂN, 100 NGHỆ SĨ ĐƯƠNG ĐẠI, 10 NGHỆ SĨ NGUỒN (KỲ1)

Lời người dịch

Bài dịch dưới đây được dịch từ cuốn Kem lạnh: 10 giám tuyển, 100 nghệ sĩ đương đại, 10 nghệ sĩ nguồn [Ice Crem, 10 curator, 100 contemporary artists, 10 source artist] do Nhà xuất bản Phaidon xuất bản năm 2008. Bài dịch này là cuộc trao đổi giữa 10 giám tuyển trong số các giám tuyển quan trọng nhất hiện nay trên thế giới, về các chủ đề như vai trò và nhiệm vụ của giám tuyển, áp lực thị trường, cuộc đối đầu giữa định chế và các khu vực ngoại biên, cũng như về chính các thay đổi trong thực hành giám tuyển thế giới. Trong vai trò là một nghệ sĩ và giám tuyển độc lập, tôi hy vọng cuộc trao đổi này sẽ giúp cung cấp cho bạn đọc, nhất là các bạn đọc là công chúng tại Việt Nam, một “lát cắt” thông tin, dẫu không hoàn toàn đầy đủ, song cũng khá bao quát về, các vấn đề của thực hành giám tuyển, của nghệ thuật nói chung trên thế giới hiện nay.

Như Huy

---------

Tiểu sử các giám tuyển tham gia vào cuộc thảo luận

Sergio Edelstein

Sáng lập Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Tel Aviv năm 1995, ở đó, từ năm 1997, ông đã giám tuyển 5 biennial về nghệ thuật trình diễn và 2 biennial quốc tế về nghệ thuật video, có tên là “Video Zone”. Năm 1987, ông sáng lập Artifact Gallery, Tel Aviv, nơi ông nhận lãnh vai trò giám đốc cho tới năm 1995. Từ năm 1995, ông đã giám tuyển vô số triển lãm video, các triển lãm hồi cố, các sự kiện trình diễn và các biennial, bao gồm Khu vực dành cho Israel tại Venice Biennale (2005). Edelstein đã giảng dạy, dàn dựng các chương trình chiếu video và xuất bản trước tác ở nhiều quốc gia vòng quanh thế giới, trong đó bao gồm Israel, Tây Ban Nha, Brazil, Ý, Áo, Đức, Mỹ và Argentina.

Jens Hoffmann

là một giám tuyển và cây viết về nghệ thuật có xuất xứ từ San Francisco, là nơi ông giữ chức giám đốc CCA Wattis Institute. Ông là giám đốc triển lãm tại Viện Nghệ thuật Đương đại London và là thành viên bộ môn của chương trình nghiên cứu giám tuyển tại Trường Goldsmith, Đại học London cho tới cuối năm 2006. Từ năm 1998, ông đã giám tuyển rất nhiều triển lãm quốc tế cũng như viết hàng trăm bài viết về nghệ thuât thị giác và thực hành giám tuyển cho các ấn phẩm bảo tàng xuất bản và các tạp chí nghệ thuật. Ông đã tổ chức vô số triển lãm nhóm, trong đó bao gồm “Những sự chọn lựa ưa thích của nghệ sĩ”, phần 1 và phần 2 (2004), “100 artistss See God” [“100 nghệ sĩ thấy Chúa”] (2004-5) và “Tino Sehgal” (2005, 2006 và 2007).

Lisette Lagnado

Là trưởng ban giám tuyển của Biennial São Paolo lần thứ 27 (2006) và tham gia làm việc cho triển lãm Documenta lần thứ 12 (2007), năm 1993, bà sáng lập Projecto Leonilson và xuất bản Leonilson, São tantas as verdades. Bà đã là đồng giám tuyển triển lãm “Antartica Artes com a Folha” (1996), một triển lãm lập đồ bản cho nghệ thuật của Brazil, và là giám tuyển triển lãm “Special Hall” [Phòng trưng bày đặc biệt] tôn vinh Iberê Camargo tại Biennial do Mercosul lần thứ 2 (1999), cũng như là đồng điều hành website Programa Hélio Oiticica. Từ 2001, bà là biên tập viên của tạp chí online Trópico. Bà có bằng tiến sĩ triết học của Đại học São Paolo.

Midori Matsui

là một phê bình gia nghệ thuật và học giả từng viết rất nhiều về văn hóa nghệ thuật của Nhật Bản và phương Tây cho nhiều tạp chí định kỳ và catalogue khác nhau, bao gồm Little Boy; The Arts of Japan’s Exploding Subculture [Cậu nhóc: Nghệ thuật về trào lưu văn hóa bên lề đang bùng nổ của Nhật Bản] (2005), Japan Society, New York [Hiệp hội Nhật bản New York]; Public Offering [Sự đề nghị công khai] (2001), Musem of Contemporary Art [Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại] và Geffen Contemporary, Los Angeles; Painting at the Edge of the World [Hội họa ở nơi tận cùng thế giới] (2001) Walker Arts Center [Trung tâm nghệ thuật Walker], Mineapolis;Takashi Murakami: The Nonsense of the Meaning of the Nonsense [Takashi Murakami; Sự bất tri nơi nghĩa của sự bất tri] (2000), do Harry N Abrams xuất bản và Art in a New World; Post-Modern Art in Perspective (2000) [Nghệ thuật trong một thế giới mới; Nghệ thuật hậu hiện đại nhìn trong phối cảnh], do Asahi Press xuất bản. Matsui hiện đang giảng dạy về nghệ thuật hậu hiện đại và lý thuyết tại đại học nghệ thuật Tama, Yokohama. Bà là giám tuyển của triển lãm “The Door into Summer: The Age of Micropop” [Cánh cửa vào mùa hạ; kỷ nguyên của pop –vi mô] (2007, tại Art Tower Mito [Tháp nghệ thuật Mito], Nhật Bản.

Shamim M. Momin

là giám tuyển cộng tác tại Bảo tàng Whitney về nghệ thuật Mỹ, giám đốc chi nhánh và giám tuyển của Bảo tàng Whitney tại Altria, New York. Ngoài công việc đồng giám tuyển cho Whitney Biennial (2004), bà còn coi sóc “Loạt triển lãm đương đại” [The Contemporary Series] và mới đây đã tổ chức các triển lãm cá nhân “Banks Violette” (2005), “Raymond Pettibon” (2005-6) và “Mark Grotjahn” (2006-7) cho dự án này. Bà là tác giả cho các catalogue của những cuộc triển lãm tại Whitney cũng như thường xuyên viết cho các ấn phẩm nghệ thuật khác. Bà tham gia vào rất nhiều hội đồng và các cuộc thảo luận bàn tròn và thường là giám tuyển và phê bình gia nghệ thuật khách mời tại các trường nghệ thuật, các chương trình thường trú nghệ thuật và các đại học. Mới đây nhất, bà là giáo sư thỉnh giảng cho chương trình thạc sĩ cao cấp của Đại học New York.

Pili

là giảng viên tại học viện mỹ thuật trung tâm và giám tuyển tại không gian phương tiện mới Loft, Bắc Kinh. Ông đồng điều hành “Between Past and Future; New Photography and Video from China [Giữa quá khứ và tương lai; nhiếp ảnh và Video mới từ Trung Hoa], một triển lãm được thực hiện liên kết với Freewaves, được đồng giám tuyển bởi Wu Hung và Christopher Phillips. Ông còn là giám tuyển cho triển lãm lưu động “Under Constructuon” [Phía dưới cấu trúc], tức một triển lãm đi vòng quanh các quốc gia châu Á từ 2001 đến 2003, là trợ lý giám tuyển cho khu vực Trung Hoa tại Biennial São paolo lần thứ 25 92002), là giám tuyển cho Biennale Thượng Hải (2002) và cho triển lãm “Allors la Chine” (2003), tại trung tâm nghệ thuật Pompidu, Paris. Vào năm 2005, Pili và Waling Boers, từ Gallery Büro Friederich tại Berlin, sáng lập Gallery xưởng làm việc quốc tế độc lập [Independent Universal Studo Gallery] tại Bắc Kinh. Ông cũng là giám tuyển cho một khu vực trong triển lãm China Power Station; phần 1, là dự án của gallery Serpentine tại Battersea Power Station, London.

Gloria Sutton

từng là thành viên thuộc Quỹ Helena Rubinstein về nghiên cứu phê phán tại chương trình nghiên cứu độc lập thuộc Bảo tàng Whitney về Nghệ thuật Mỹ và hiện đang hoàn tất bằng tiến sĩ lịch sử nghệ thuật tại Đại học California, Los Angeles, cũng là nơi bà viết một luận án về Thực hành điện ảnh mở rộng của thập kỷ 60. Bà là thành viên sáng lập và hiện thuộc ban giám đốc của Rhizome.org. Trong vai trò người nhận học bổng giám tuyển Ahmanson tại bảo tàng nghệ thuật đương đại Los Angeles, bà đã giám tuyển triển lãm “MOCA Focus: Karl Haendel” và là trợ lý giám tuyển của triển lãm “Ecstasy: In and About Altered States” [Mê ngất: Trong và về các biến trạng]. Mới đây bà đã xuất bản cuốn sách Future Cinema: The Cinematic Imaginary After Film [Tương lai của điện ảnh: Sự tưởng tượng thuần túy điện ảnh thời hậu làm phim], do MIT Press xuất bản.

Olesya Turkina

là một phê bình gia nghệ thuật và giám tuyển. Các dự án trước đây của bà bao gồm Khu vực nước Nga tại Vinice Biennale lần thứ 48 (1999) và bà cũng là đồng giám tuyển của triển lãm “Kabinet”, Stedelijk Museum, Amsterdam. Olesya Turkina là thành viên nghiên cứu cao cấp tại ngành nghệ thuật đương đại thuộc Bảo tàng Quốc gia Nga, St. Petersburg. Bà từng viết cho các tạp chí như Flash ArtMoscow Art Magazines, và là một biên tập viên của tạp chí nghệ thuật online Contemporary Russian Art Newsletter [Tin tức về nghệ thuật đương đại Nga]. Cùng với việc là thành viên Liên đoàn Không gian Nga [Russian Space Federation], là nơi mà bà cống hiến rất nhiều sức lực, trong khoảng vài năm nay, bà cũng làm việc cho một loạt triển lãm về điện ảnh có tên “The Chain of Flowers” [Chuỗi hoa] cộng tác với Bảo tàng Công nghệ kỷ Jura [Museum of Jurrassic Technology], Los Angeles.

Philippe Vergne

là trưởng ban giám tuyển và phó giám đốc Trung tâm Nghệ thuật Walker [Walker Art Center], Mineapolis. Ông là đồng giám tuyển Whitney Biennial (2006) với Chrissie Lies và là giám đốc Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Marseille từ 1994 tới 1997. Ông là giám tuyển triển lãm lưu động và hồi cố đầu tiên của nghệ sĩ Trung Hoa Huang Yong Ping (2005). Ông cũng đã giám tuyển vô số các triển lãm dạng chuyên khảo khác trong thời kỳ làm việc tại Trung tâm Nghệ thuật Walker, bao gồm “Cameron Jamie” (2006), và “Kara Walker” (2007). Ông từng viết cho rất nhiều tạp chí định kỳ như Artforum, ParkettAsia Pacific Magazine.

The Wrong Gallery


Vào năm 2002, Nhóm của nghệ sĩ Maurizio Cattelan, giám tuyển Massimiliano Gioni, biên tập viên và giám tuyển Ali Subotnick đã thành lập The Wrong Gallery, là một không gian triển lãm rất nhỏ theo hình một cửa ra vào rộng một mét vuông tại Chelsea, quận nghệ thuật của New York. The Wrong Gallery bị trục xuất khỏi không gian đó vào mùa Xuân năm 2005, và được đưa lại vào khu gallery của các bộ sưu tập thuộc bảo tàng tại Bảo tàng Nghệ thuật Tate Modern, London. The Wrong Gallery cổ vũ cho các các cuộc can thiệp bí mật cỡ nhỏ vào không gian công cộng và xuất bản The Wrong Times, một tờ nhật báo đăng phỏng vấn của các nghệ sĩ từng triển lãm tại The Wrong Gallery. Cattelan, Gioni và Subotnick gần đây đã trình bày triển lãm “Thất vọng vì luật pháp”, một triển lãm trong vòng một ngày đêm tại Whitney Biennale (2006). Nhóm giám tuyển ba người này đã giám tuyển biennial Berlin cho nghệ thuật đương đại lần thứ 4, có tên là “Của Chuột và Người” (2006).
________________

Lời giới thiệu: Theo bước đi của Kem [Cream] (1998), Kem tươi [Fresh Cream] ( 2000) và Kem 3 [Cream 3] (2003), Kem lạnh: Nghệ thuật đương đại trong văn hóa [Ice Cream: Contemporary Art in Culture] là một cuộc khảo sát toàn cầu về một số các nghệ sĩ đang-lên quan trọng nhất ngày nay. Với tập hợp của 100 nghệ sĩ được một nhóm 10 giám tuyển nổi tiếng thế giới tuyển lựa, cuộc triển lãm-trong-sách này sắm vai trò như một bản chỉ dẫn về các xu hướng nghệ thuật trong tương lai.

10 giám tuyển quan trọng được Phaidon lựa chọn dựa vào tri thức, viễn kiến sắc sảo và quan điểm có tính phê phán của họ. Trước hết, mỗi giám tuyển sẽ đề cử 10 nghệ sĩ mà họ cảm thấy là đại diện tốt nhất cho lớp “váng kem” của nghệ thuật đương đại hiện tại. Sau đó, họ sẽ làm việc với các nghệ sĩ ấy để lựa chọn ra các tác phẩm tốt nhất và có tính tiêu biểu nhất của từng nghệ sĩ để đưa vào cuốn sách này. So với cả loạt sách, cuốn sách này có một sự phá cách mới mẻ khi nó đưa The Wrong Gallery vào vai trò một trong 10 giám tuyển. Khác với 9 giám tuyển còn lại, nhóm giám tuyển từ The Wrong Gallery chỉ lựa chọn các nghệ sĩ trên 60 tuổi mà gần đây tái xuất hiện trong ý thức của thế giới nghệ thuật đương đại. Sự giao cắt giữa các thế hệ này không thường thấy trong các cuốn sách tập trung vào các nghệ sĩ chưa nổi tiếng và nó sẽ đưa lại một độ sâu cũng như hương vị đặc biệt cho Kem lạnh.

Cùng lúc ấy, Kem lạnh cũng đề nghị một cái nhìn toàn cảnh vào khung cảnh đương đại toàn cầu hóa với tốc độ dần tăng. Hơn bao giờ hết, để hiểu được các phát triển cận thời nhất trong nghệ thuật, khả năng quan sát vượt khỏi các biên giới địa lý là vô cùng quan trọng, và các giám tuyển của Kem lạnh đã sử dụng hiểu biết của họ về các khung cảnh thường nhật – ở đây bao gồm hơn hai tá quốc gia vòng quanh địa cầu – để tìm ra các nghệ sĩ đang-lên quan trọng nhất ngày nay, mà không đặt nặng vấn đề các nghệ sĩ đó chọn nơi đâu để thực hiện tác phẩm.

Giống với Kem 3, các giám tuyển cũng tuyển lựa thêm 10 nghệ sĩ nguồn [source artist] từ thế hệ trước, tức những người tạo ra ảnh hưởng và là nguồn cảm hứng cho cả họ lẫn các nghệ sĩ mà họ tuyển lựa vào đây. Sự thêm vào của các cái tên danh tiếng này sẽ cung cấp cho người đọc cơ hội phản tư vào tác phẩm của các nghệ sĩ đang-lên từ một điểm nhìn thuận lợi.

Các sáng tạo khác trong cuốn sách này bao gồm những cách ứng phó dũng cảm trước thách thức của việc miêu tả các tác phẩm mà tự bản chất là có tính nhất thời và phù du. Ví dụ, Tino Sehgal là một nghệ sĩ lựa chọn cách không bao giờ chụp lại tác phẩm của mình, mà thích để mọi người trải nghiệm trực tiếp, hoặc chí ít, được nghe kể lại về chúng từ những người đã trải nghiệm trực tiếp. Để đưa được nghệ sĩ này vào cuốn sách, giám tuyển Jens Hoffmann đã phải tìm cách tạo ra các “văn bản/hình ảnh” miêu tả về các màn trình diễn của ông.

Lẽ cố nhiên, người ta không thể mô phỏng được sự trải nghiệm nghệ thuật của mỗi cá nhân và không gì thay thế được việc xem nghệ thuật ngay trong văn cảnh thông thường của nó. Tuy nhiên, qua việc kết hợp nghệ thuật với các thông tin được thu thập qua hàng năm trời nghiên cứu khắp hoàn cầu, hy vọng Kem lạnh sẽ cung cấp được một nguồn vốn phong nhiêu và súc tích để bạn đọc có thể nghiền ngẫm.


________________


The Wrong gallery

Vai trò truyền thống, lựa chọn các nghệ sĩ, đã hết là giới hạn cho những gì cấu tạo nên công việc của giám tuyển. Triển lãm Whitney Biennial (2006)[1], New York, và triển lãm “Artists’s Favourites” [Lựa chọn ưa thích của các nghệ sĩ] (2004) tại Học viện Nghệ thuật Đương đại London là hai triển lãm mà ở đó các nghệ sĩ được yêu cầu sắm vai trò người tuyển lựa. Cái định nghĩa về “một giám tuyển là gì?” đã thay đổi ra sao? Các giám tuyển có vai trò quan trọng thế nào đến sự phát triển của nghệ thuật đương đại? Mối quan hệ với các nghệ sĩ được các ngài thiết lập ra sao và rồi chúng có ảnh hưởng đến đâu tới thực hành giám tuyển của các ngài, cũng như tới đường hướng của nghệ thuật đương đại?

Massimilliano Gioni, The Wrong Gallery

Vào thời điểm tôi bắt đầu có hứng thú với nghệ thuật đương đại, danh từ “giám tuyển” chưa quá thời thượng. Thật sự là tôi chưa bao giờ cho là mình hiểu ý nghĩa của nó. Ở nước Ý, vào cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, dường như ai cũng muốn trở thành phê bình gia nghệ thuật; không một ai hiểu thế nào là giám tuyển, và nếu là giám tuyển thì sẽ làm gì. Cái kiểu lơ mơ này đâm ra lại có tính năng sản, bởi vai trò càng ít bị định nghĩa thì hệ thống càng có tính loãng động, và khả thể càng mở ngỏ. Mối băn khoăn xung quanh các nhà giám tuyển là một hiện tượng của thập kỷ 90, và nó tương ứng với thế giới nghệ thuật đang trở nên ngày càng sáp hợp vào với ngành công nghiệp văn hóa, và bởi vậy ngày càng gắn với các vai trò và chức năng cụ thể. Nơi hệ thống nghệ thuật ít được cấu trúc chặt chẽ, nghệ sĩ có thể điều hành các không gian phi lợi nhuận và tổ chức các triển lãm, biên tập các tạp chí, hay chơi chung với nhau mà không cần coi mình là giám tuyển, hay cây viết nghệ thuật, hoặc gì khác. Ta chỉ cần dạo qua phần ngoại vi của các trung tâm danh giá ở Tây Âu và Mỹ là có thể chứng kiến cái tình huống vẫn loãng động, mở ngỏ và thường xuyên có tính sáng tạo hơn này. Nếu ta nhớ về những kẻ xúi giục và đồng hội đồng thuyền vĩ đại của các nghệ sĩ hồi đầu thế kỷ 20 – như Tristan Tzara hay André Bréton chẳng hạn – liệu ta cũng sẽ gọi họ là giám tuyển, phê bình gia, hay đơn giản chỉ thấy họ là bạn bè của nghệ sĩ, tức những người cống hiến thời gian và năng lượng của mình để giúp tạo năng lượng cho người khác? Khi được diễn giải bằng các thuật ngữ giản dị nhất, những con người này có thể là một mô hình thú vị về giám tuyển. Như vậy, một giám tuyển không phải là một nhân vật tuyển lựa nghệ sĩ, mà là một kẻ đồng hội đồng thuyền với nghệ sĩ, một chất xúc tác và một loa phóng thanh cho giọng điệu của nghệ sĩ.


Andre Breton

Còn về việc thiết lập mối quan hệ với nghệ sĩ thì lại chả có nguyên tắc nào cả. Tôi cho là việc The Wrong Gallery được đưa vào cuốn sách này có liên quan tới sự nhòa lẫn các vai trò, tức điều bỗng dưng trở nên còn hơn cả thời thượng[2]. The Wrong Gallery, hay bất cứ sự hợp tác nào với Maurizio Cattelan và Ali Subotnik, đều liên quan tới việc cộng tác chặt chẽ cùng các nghệ sĩ, tạo ra các khuôn khổ và không gian cho màn diễn của họ và để họ làm bất kỳ điều gì họ muốn. Ở trạng thái lý tưởng nhất, các giám tuyển cần làm thế nào đó để có thể trở nên vô hình; họ nên có mặt, đáng tin cậy, rồi lui lại, và biến mất. Tuy nhiên sẽ rất khó để tìm thấy sự quân bằng giữa sự xuất hiện, chủ động, dấn thân triệt để và sự phục vụ mẫn cán cho ý tưởng và viễn kiến của người khác. Ta nên luôn tự nhắc nhở rằng vai trò truyền thống của giám tuyển không nên là vai trò của việc tuyển lựa nghệ sĩ; đây là một kiểu định nghĩa có tính xúc phạm. Vấn đề ở đây không phải là việc lựa chọn hay khám phá. Chúng tôi không phải là các nhà thám hiểm lãng mạn, tức những kẻ khám phá ra một giống người gần như tiền sử gọi là “nghệ sĩ”. Các giám tuyển, theo nghĩa đen, được cho là người “quan tâm/lo liệu/bảo trọng” [take care] cho các nghệ phẩm và nghệ sĩ; đây chính là thành quả đơn giản nhất, song cũng khó khăn nhất cho bất kỳ ai làm việc trong lãnh vực nghệ thuật.

Sergio Edelsztein

Có lẽ chúng ta nên vạch một ranh giới giữa các giám tuyển “xuất hiện nổi bật” và các giám tuyển “ít được biết đến”. Nhóm đầu tiên là những giám tuyển tham dự thường trực hết siêu triển lãm này đến siêu triển lãm khác, tạo ra vai diễn đinh và gây ảnh hưởng cho thị trường nghệ thuật. Chính những kẻ này mới là “các nhà thám hiểm lãng mạn”. Họ du lịch khắp thế giới, săn tìm các nghệ sĩ mới mẻ về làm món ăn cho thế giới phương Tây (ví dụ: Triển lãm tác phẩm của các nghệ sĩ Trung Quốc và châu Phi). Các giám tuyển “ít được biết đến” là những người mà Massimiliano Gioni định nghĩa là làm việc tại “những nơi mà hệ thống nghệ thuật ít được cấu trúc chặt chẽ”. Đó là nơi mà các cấu trúc thị trường và định chế không rõ ràng, do đó, thời gian và năng lượng của nghệ sĩ được dành cho các hành vi bên ngoài studio, cho các cuộc thảo luận, và cho sự tương tác với các nghệ sĩ khác, đến mức tạo ra đủ nhiệt lượng để phát triển thành ra một thực hành giám tuyển. Đây chính là một đặc quyền của các phần ngoại biên. Tuy nhiên, khi nói điều này, tôi không có ý hàm chỉ về một chốn-không có tính địa lý, mà là về các nhóm ngoại biên, tách khỏi thị trường định chế thuộc dòng chính lưu.

Sự trộn lẫn và trao đổi vai trò luôn không chỉ là một đặc quyền, mà còn là một điều kiện cho các vận động tiền phong. Đây chính là nơi mà Tzara và Bréton xuất hiện. Việc không có một hệ thống ủng hộ bên ngoài nhóm đang hoạt động cũng là một điều kiện cho sự xuất hiện ấy Chúng ta, các giám tuyển chuyên nghiệp và bận rộn hiếm khi tập trung vào một nhóm, một ý tưởng hay lý thuyết cụ thể, để rồi dần dà tạo được ảnh hưởng lớn trong sự phát triển của nhóm, ý tưởng hay lý thuyết ấy. Có thực sự là chúng ta có “thời gian và năng lượng để giúp tạo năng lượng cho người khác” như ao ước của Massimilliano Gioni, khi chúng ta luôn phải đi lại như con thoi giữa các dự án, triển lãm và định chế – chưa kể tới việc gây quỹ và các công việc hành chính khác?

Tôi đồng ý rằng đây là một tình huống lý tưởng; Tôi hiểu cảm xúc về một sự đồng vận lớn dần khi làm việc cùng một nghệ sĩ, và điều này thật tuyệt vời! Song tôi cũng rất biết sự giận dữ của việc không đủ tự do, thời gian hay năng lượng để trở nên một “kẻ đồng hội đồng thuyền… một chất xúc tác và một loa phóng thanh cho giọng điệu của nghệ sĩ”.

Olesya Turkina

Từ sau thập kỷ 70 cho tới thời “Cải tổ” tại Liên Xô, “giám tuyển” là tên đặt cho nhân viên KGB được chỉ định theo dõi các nghệ sĩ và trào lưu ngoài luồng. Quyền lực áp bức này được ngụy trang bằng tình yêu thương theo kiểu phụ huynh, hàm ngụ qua chính từ nguyên của từ giám tuyển, bởi công việc của một giám tuyển [curator], theo nghĩa đen, là “cure” (hay care) [giám hộ/ điều trị/ bảo quản/chăm nom]. Felix Guattarri gọi nghệ sĩ là các bệnh nhân và bác sĩ của thời đại chúng ta, song, có lẽ ở đây vai trò bác sĩ nên được dành cho giám tuyển. Và nếu vậy, việc là một “giám tuyển nổi danh” cũng đồng nghĩa với việc trở nên một nhà tâm phân học lắng nghe nghệ sĩ nói, hồi nhớ, biểu lộ, chuyển hóa. Một giám tuyển nên làm gì trong tình thế này? Liệu có phải là nên lắng nghe và phân tích nhờ vào một hình thức cụ thể – hình thức của triển lãm?

Sergio Edelsztein

Tôi thích ý nghĩa kiểu Xô-viết gán cho từ “giám tuyển”. Thật tình cờ là trong tiếng Tây Ban Nha, đặc biệt là tại Tây Ban Nha – họ cũng thường sử dụng tử “comisaro” hơn là từ “curador” cho những người làm công việc giám tuyển. Comisaro cũng có nghĩa là cảnh sát trưởng – một dạng “sherrif” [tiếng Anh: cảnh sát trưởng địa phương]. Liệu cách dụng từ này có tương đương gì với cách KGB hiểu về “giám tuyển?”

Shamim M Momin

Thật thú vị làm sao. Trước đây tôi chưa bao giờ nghĩ về những dị bản từ nguyên mà chữ “giám tuyển” có thể gợi ra trong các ngôn ngữ khác. Tôi luôn hiểu nó như một chữ phái sinh từ tiếng Latin, mà tôi tin là Massimiliano Gioni đã tham chiếu khi ông phân tích về khía cạnh “care of” của nó. Tôi đã nghĩ rất nhiều về vai trò giám tuyển, và thấy rằng hiện nay có biết bao nhiêu là kiểu giám tuyển khác nhau. Điều gì là yếu tố chung nhất cho họ? Là cái giản đồ ven, nơi các khu vực chung từ các vòng tròn khác biệt chồng khít với nhau? Dường như với tôi, điểm mấu chốt có tính cơ sở cho một giám tuyển đương đại chính là một mệnh đề kép. Chúng ta “take care of” nghệ sĩ – không phải theo cảm thức “take care of” một kẻ mắc “hội chứng bác học khờ” [idiot-savant] có tính tiểu thuyết hóa, là điều sẽ xúc phạm ghê gớm toàn bộ mọi thành phần liên quan, mà hơn thế, theo cảm thức của sự tạo điều kiện làm việc thuận tiện và tạo đối thoại/cơ hội. Chúng ta là một dạng hoa tiêu vĩnh cửu giữa nghệ sĩ và công chúng. Giám tuyển có lẽ là một kiểu dây cáp dẫn điện mà dẫu có sở hữu hình dạng thế nào đi nữa thì cũng đều cần thiết. Như Sergio Edelsztein đã chỉ ra, một giám tuyển làm việc trong định chế sở hữu một tập hợp các công việc mà một giám tuyển độc lập không có, và ngược lại – tuy nhiên, tất cả mọi giám tuyển đều phải được đánh giá trên một thang đối chiếu về sự tự do, tính tháo vát, khả năng hỗ trợ, tầm ảnh hưởng, sự nghiêm khắc về chất lượng, sức truyền cảm, sự thông sáng, v.v… Một yêu cầu cho công việc giám tuyển mà hầu hết các đồng nghiệp của tôi đều đồng thuận; đó là trách nhiệm và đặc quyền đồng thời của việc tạo ra sự kiện cho các nghệ sĩ và tác phẩm mà ta dồn tâm lực để xiển dương – hay, mượn thuật ngữ gợi gọi hơn, -để “khuếch đại” [amplyfing] – theo cả hai hướng; cho nghệ sĩ, cũng như cho những người xem và trải nghiệm tác phẩm.

Vào một ngày đẹp trời, tôi có cảm giác rằng lãnh địa đương đại hình như đang bớt dần tính cấu trúc – có nghĩa là, hiện nay, ở đó, quan điểm tuyển lựa và trưng bày có tính phân cấp đã không còn bị định nghĩa rạch ròi, và do đó, thích hợp hơn với ý tưởng có tính phê phán nói trên về sự tạo điều kiện làm việc thuận lợi cho nghệ sĩ. Ý nghĩ của tôi được khuyến khích bởi những bước tiến nhỏ bé đang diễn ra, như là việc nghệ sĩ được các giám tuyển mời để giám tuyển triển lãm, và cũng bởi các chuyển biến ít rõ ràng hơn trong các lề thói nơi mối quan hệ giữa giám tuyển và nghệ sĩ. Có lẽ, đây là một cách đọc đặt cơ sở từ kinh nghiệm tại nước Mỹ, nơi chúng tôi có vẻ đang quẩn quanh trong một cấu trúc quyền lực tư bản rành mạch hơn nhắm tới một sự trao đổi và loãng động có tính tương hỗ- trái ngược với mô hình châu Âu chịu ảnh hưởng từ các mô hình trong lịch sử.

Gloria Sutton

Thật thú vị khi lưu ý về các tính từ dùng để miêu tả vai trò giám tuyển. Các định tính “cao” và “thấp” [trong cách nói “xuất hiện nổi bật” (high-visibility) và “ít được biết tới” (low-visibility)], cũng như ý tưởng rằng các giám tuyển nên/có thể xuất hiện, song lại biến mất hoặc chìm vào hậu cảnh đã làm rõ vai trò giám tuyển như một vị trí không ổn định từ vô số cấp độ; từ cấp độ là một vị trí trong một tổ chức (quyền lực) có tính phân cấp, từ cấp độ chính sách, quan điểm, tư kiến, hay từ cấp độ hành động – tức dàn dựng các sự vật trong mối quan hệ của chúng với nhau. Tôi cũng chú ý tới việc làm thế nào mà tên của giám tuyển lại thường xuyên xuất hiện trước, hay ở một số trường hợp, xuất hiện đúng nơi lẽ ra phải niêm yết tên nghệ sĩ, và qua đó, mang chức năng của một sự chứng nhận, hay (có lẽ Pierre Bourdieu hẳn sẽ miêu tả là của) một hành vi thiêng hóa, hành vi ban giá trị cho điều gì đó vốn vô giá trị. Kem lạnh là một ví dụ cho điều này. Nếu như các nghệ sĩ xuất hiện trong cuốn sách được giả định là khá vô danh hay “đang-lên”, vai trò giám tuyển trong văn cảnh này, theo nghĩa đen, đã trở nên một bộ lọc, tức hành vi đưa ra một phán đoán về giá trị trong khi cùng lúc ấy, ban bố giá trị.


--------

[1] Whiney Biennial [Biennial hay Biennale, đều là tên gọi cho dạng triển lãm hai năm một lần - ND] (từ mùng 2 tháng Ba đến 28 tháng Năm) có đưa vào triển lãm “Thất vọng vì luật pháp” [Down by Law] do The Wrong Gallery giám tuyển. Đây là một triển lãm nằm trong một triển lãm [nằm trong Whitney Biennale]. “Những sự lựa chọn ưa thích của nghệ sĩ” [Artists’ Favourites] (phần 1: từ mùng 5 tháng Sáu đến 23 tháng Bảy; Phần 2: Từ 30 tháng Bảy đến mùng 5 tháng Chín 2004) đặt cơ sở trên tiền đề của việc nghệ sĩ tuyển lựa tác phẩm mà họ thấy thích nhất của các nghệ sĩ khác, tức những tác phẩm được thực hiện sau năm 1947, chính là năm thành lập của Học viện Nghệ thuật Đương đại London.

[2] The Wrong Gallery do nghệ sĩ Maurizio Cattealan, giám tuyển và phê bình gia nghệ thuật Massimiliano Gioni cùng cây viết nghệ thuật và giám tuyển Ali Subotnik thành lập; Gallery này không đại diện cho bất kỳ nghệ sĩ nào cũng như không mua bán các tác phẩm nghệ thuật. Xem them phần tiểu sử các giám tuyển, tr. 443.


kì 2, kì 3

(Còn 3 kì)

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

Chuyện hai hạt đậu (thơ ngụ ngôn của ông nội)

Vốn cùng một quả tách ra
Đậu kia đôi hạt màu da xanh rờn
Tình thân gắn bó keo sơn
Cùng nong cùng mẹt trong cơn nắng hè
Cũng vì đất chở giời che
Há vì giúp ích mà e thân tàn
Bỗng người gây cảnh chia tan
Hạt đem ngâm nước hạt dàn phơi thêm
Thấm nhuần qua mấy ngày đêm
Hạt đem ngâm nước mọc thêm rễ dài
Nõn nà trắng toát trong ngoài
Mũ vàng đầu đội nên oai vô ngần
Cong cong mềm uốn tấm thân
Nghĩ mình danh giá có phần tự kiêu
Chê bai bạn đậu đủ điều
Các anh bộ dạng coi tiều tuỵ thay
Đầu đuôi cứng nhắc tròn xoay
Sao không bắt chước tôi đây đổi hình
Đậu nghe cười nhạt lặng thinh
Nghĩ điều nông nổi bạn mình ngán chưa
Vừa nên cái giá làm dưa
Vội chê cả mẹt đậu xưa bạn mình
Ngẫm xem thế thái nhân tình
Thuỷ chung trong lúc hiển vinh mấy người



Giải nhất cuộc thi thơ ngụ ngôn do hội Khai Trí Tiến Đức tổ chức năm 1942, do cụ Huỳnh Thúc Kháng làm chủ khảo

Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2012

bài hát Tiếng Cồng quân Y thời Tây Tiến, và một chuyện liên quan tới Hà Nội ( có kèm thêm phần tư liệu mới)

Đây nguyên là một note tôi đã đăng trên facbook, nay có thêm tư liệu mới, nên tôi đăng lại ở blog- và có kèm thêm tư liệu mới đăng ở bên dưới note cũ. Tư liệu mới này tình cờ do gia đình mới gặp được một người trước làm binh vận thời chống Pháp, nắm rất rõ về các sự kiện thời đó, và nhờ ông viết lại, gửi email trực tiếp. Ngày tết đăng bài này, âu cũng là năm mới nói chuyện cũ:-)

1-NOTE CŨ:

Trong hồi ký Tô Hải, ở phần 5- Bước ngoặt định mệnh, có một đoạn như sau:


(Click vào hình để xem lớn)

Theo nhạc sỹ Tô Hải, Nhân vật đại đội trưởng trung đoàn tây tiến là Vũ Như Trang, là tác giả của bài hát “ Tiếng Cồng Quân Y”. Tuy nhiên, có lẽ do thời gian đã lâu, bác Tô Hải có một chút sai lầm trong trí nhớ nên nhớ sai HỌ của người đại đội trưởng đó ( tôi đã trực tiếp gọi điện cho bác Tô Hải để đính chính). Đúng ra tên thật của người đại đội trưởng ấy là NGUYỄN Như Trang chứ không phải VŨ Như Trang.

Tôi biết điều này bởi bác Trang ( NGUYỄN Như Trang) chính là bác ruột của tôi ( anh của bố tôi).Bác tôi hy sinh khi một mình bị quân Pháp bao vây trong một ngôi nhà sàn tại làng Mu, thôn Ngọc Lâu, châu Lạc Sơn. Chính tôi sau này đã đi dựng lại hai bài hát của bác, 1/ “Tiếng cồng quân y”, và 2/ “ Trấn biên cương”. Hồi đó, Lê Dung và Quang Thọ là hai ca sỹ do tôi mời để thu hai bài đó- và bản phối là của Đặng Hữu Phúc.

Ca khúc Tiếng Cồng quân Y



Ca khúc Trấn Biên Cương



Liên quan đến bác Trang, còn có một câu chuyện rất hay- đó là câu chuyện tình của bác với bác Tô, một cô gái Hà Nội. câu chuyện này sau được bác sỹ Lê Hùng Lâm, cũng là một chiến sỹ trong trung đoàn Tây Tiến kể lại với nhan đề là “ chuyện tình Tây Tiến” –và có đăng lại trong cuốn sách “ Một thời Tây tiến” (câu chuyện đó tôi sẽ đăng dưới đây)

cô gái tên "Tuyết" trong câu chuyện mà bác sỹ Lê Hùng lâm nhắc tới tên thật là “ Tuyết Tô”. Sau này, tuy bác Tô cũng đã có gia đình riêng, song tất cả các dịp giỗ chạp hay lễ tết, hoặc mỗi khi gia đình có việc quan trọng, bác vẫn đều tới và tự coi mình như con dâu trong nhà chúng tôi. Chồng con bác cũng biết rõ về mối tình đầu của bác với bác Trang tôi, và hoàn toàn tôn trọng mối quan hệ này giữa bác và gia đình chúng tôi. Ông nội tôi cũng có nhắc đến bác Tô trong một bài thơ, mà tôi quên hết, chỉ còn nhớ câu " Chị Tô cô gái sông Lô, hát hay giọng chẳng chịu thua tiếng đàn"
----

Chuyện tình Tây Tiến
Lê Hùng Lâm

Đêm đêm lính Tây Tiến thường kháo nhau đủ chuyện, sôi nổi nhất là chuyện tình. Thật hư đến đâu, nhiều ít thế nào, ai mà biết được. Càng thêm bớt càng li kỳ và đứa nào kể cũng bảo mình rõ mười mươi. Lâm kể mình biết chuyện tình của đại đội trưởng Trang. Hồi ấy trong đại đội, mình là chú bé nhỏ nhất, nhanh nhẩu nhất và hình như cũng xinh xẻo. Anh Trang chọn mình làm liên lạc viên. Mình thích được các anh trao giấy tờ, chạy như con thoi, tung tăng xuống các trung đội, tiểu đội. Bị trêu là “em gái” đại đội trưởng mình cũng thích thích. Tuy vậy càng sống cạnh anh mình càng thấy đại đội trưởng gì mà đánh trận thì hăng, về nghỉ lại mơ mơ màng màng. Có lúc anh thẫn thờ nhìn mình như nhìn một người khác. Anh còn bắt mình ngồi làm mẫu cho anh vẽ. Anh vẽ hàng chục, hàng trăm lần, nhưng cứ đến đôi mắt lại không vừa lòng, vẽ lại. Mình nghĩ anh vẽ mắt ai chứ không phải mắt mình.

Một hôm tiểu đội trưởng Phúc lên bù khú với đại đội trưởng, xưng hô mày tao. Thì ra họ là bạn cùng lớp trường Thăng Long. Phúc bảo: “Chỉ tao biết tại sao mày chọn cu Lâm làm liên lạc viên. Nó có đôi mắt giống con Tuyết thế! Cứ tưởng chiến đấu 2 tháng sau về giải phóng Hà Nội ngờ đâu 2 năm rồi. Mày có tin tức gì về Tuyết không?” Trang thở dài: “Nhớ quá! Sau trận này về tao phải tìm Tuyết”. Ngày ấy nghe nói có đứa con gái đẹp đứng bán sách ở phố Bà Triệu, các anh liền rủ nhau đi ngắm xem sao thì được chứng kiến tài đối đáp của cô hàng sách .Hai thanh niên đến hỏi: “Cô có Làm đĩkhông”. Tuyết tỉnh bơ: “Không, chỉ có Hai thằng khốn nạn”. Đó là tên hai cuốn tiểu thuyết đang bán chạy. Cũng từ đó Phúc và Như Trang la cà ở hiệu sách này. Đáo để với ai chứ với bộ đội thì cô đon đả, bắt chuyện rất nhanh.

- Nó mê mày cao to, đẹp trai, sao vành súng lục, chứ lùn tịt như tao ăn thua gì. Thế chúng mày yêu từ lúc nào?

- - Thư đầu tao nhắn Tuyết là bận chỉ huy không ra được, nhờ mách bảo có sách gì hay. Không ngờ thư gửi lại giới thiệu cuốn “Triết học Kăng” vừa xuất bản và Tuyết còn bình luận về Rút-xô, Mông-tét-xki-ơ… thư của chúng tao cứ chuyển dần sang triết lí tình yêu rồi yêu nhau thật. Những ngày sôi sục chuẩn bị đánh Tây cũng là những ngày cuối chúng tao dạo quanh hồ Gươm, tà áo dài của Tuyết cuốn quanh quân phục của tao. Hôm tác chiến ở Vĩnh Tuy moóc-chi-ê và pháo địch nã tan tành các chiến lũy. Tao về hầm chỉ huy chợt thấy Tuyết. Hỏi sao đến được đây thì Tuyết nói đưa gia đình đi tản cư về quê rời trở lại làm cứu thương hết mặt trẩn cửa ô này sang cửa ô khác để tìm tao. Cả mặt trận phía nam Hà Nội nổi tiếng đại đội anh Trang. Thế là tìm được. Lần ấy chúng mình thề gắn bó với nhau suốt đời, đến ngày chiến thắng sẽ cưới nhau. Tuyết vẫn mặc áo tím, cái áo dài tím nổi màu giữa hiệu sách, loang loáng ven bờ hồ nay được cắt ngắn và xuất hiện ở trận địa Tao bồi hồi, lúng túng khi ngửi thấy mùi nước hoa. Bao thằng cầm súng băng qua vẫn ngoái nhìn lại cái áo tím thoảng mùi hoa thơm. Tao nhớ rồi, ba ngày sau mày vẫn trêu tao là còn mùi nước hoa trên áo. Thế rồi đi Tây Tiến, bặt tin nhau.

Trú quân ở Mường Pùng, mỗi khi tắm suối về lính ta lại sôi nổi tả cảnh các cô tắm suối. Có anh một ngày đi tắm mấy lần. Đại đội trưởng thì khác, bảo là đi tắm nhưng anh vẫn quân phục chỉnh tề, mũ sắt chụp đầu, hiên ngang với khẩu “côn bát” và thắt lưng Mỹ trễ sườn, cứ như ra trận. Mình đi theo thấy lần nào anh cũng rẽ qua cái nhà sàn gỗ ấy và lần nào cũng thấy trong cửa sổ có mấy cô gái Lào khúc khích đấm nhau, Họ đẩy ra trước cô xinh nhất, mặc áo tím, gọi lơ lớ “anh bộ đội”. Đại đội trưởng mặt mày rạng rỡ. Chỉ huy gì mà cười tình tứ thế. Dịp ấy đúng lễ té nước, bộ đội đều được dân Mường Pùng té nước cầu phúc và cố chạy cho khỏi ướt. Riêng đại đội trưởng, cứ đứng cho cô áo tím giội hết cả bương. Đêm hôm đó anh lên cơn sốt rét. Mình nghe thấy trong tiếng run cầm cập anh gọi “la vi-ô-let” (violette = tím). Dọc đường Tây Tiến, gặp Trang anh em thường nheo mắt gọi “la vi-ô-let”, ít người biết cô áo tím nào.

Trong trận đánh Mường Lồ anh đang xông lên thì trúng đạn. Anh to nặng quá nhưng mình cũng cõng được ra bờ suối. Khi cái đau đã ngấm và gió rét nổi lên, anh ôm chặt mình vào lòng, hai anh em cùng ấm. Anh thều thào: “Nếu anh có sao, chú tìm gặp chị Tuyết nói là chị vẫn luôn luôn ở bên anh”. Mình quờ tay ngắt được một bông hoa dại giơ lên: “Anh ơi, hoa tím đây!”.

Sau trận chỉ huy anh dũng ấy, anh được thưởng huân chương và được nghỉ phép 10 ngày về thăm nhà. Anh xin bố mẹ anh tìm gặp bố mẹ chị, cho anh chị được đính hôn. Hai gia đình đều là nhà giáo, đang tản cư. Đêm trăng trên con đò nhỏ, hai ông bố họa thơ, hai bà mẹ chuẩn bị thức nhắm và đôi trai gái tự tình. Đã có một dòng sông kháng chiến chở một con đò đầy ắp hạnh phúc thanh cao đến thế.

Trờ về đại đội, mỗi khi kiểm tra các đơi vị hay trinh sát trận địa anh đều mang mình đi theo, có lúc hai anh em rong ruổi mỗi người một ngựa. Mình thích nhảy ngựa mà anh lại cứ đỡ mình. Mình trêu: “Giá em mặc áo tím phi ngựa theo anh thì tuyệt trần”. Anh bảo: “thế thì tớ bế cậu lên ngồi cùng”. Được anh quý như “em gái” mình cũng đỡ nhớ nhà và càng quấn quýt bên anh.

Một hôm có tiếng súng nổ ở đầu nhà. Báo động, cả đại đội bộ bật dậy, chạy ùa xuống cầu thang. Đại đội trưởng đã đứng đấy cầm roi quất vun vút, ra lệnh quay lại nhảy qua cửa sổ. Bị roi quất đau quá, mình kêu to: “Em đây mà, anh Trang, em đây mà”. Anh quát: “Em thì em” và cứ quất mạnh. Mình ôm đầu, quay lại nhảy qua cửa sổ. Bị đánh nhiều nhất, đau nhất, mình rất ức. Sớm hôm sau anh đến vỗ vai mình, mình quay mặt đi: “Sao đánh người ta đau thế” rồi quyết xin xuống tiểu đội chiến đấu. Từ đó xa anh nhưng nhờ cách rèn quân nghiêm khắc của anh mà bao lần mình thoát chết. Địch đột kích cứ nhằm cầu thang lia đạn, mình bao giờ cũng tìm cách nằm cạnh cửa sổ nhà sàn, có động là nhảy qua.

Chuyện anh hy sinh có nhiều người kể khác nhau, người bảo địch lùng sục tiêu diệt hết đội trinh sát do anh dẫn đầu, người nói anh đã bắn trả quyết liệt, địch gọi không hàng và dành viên đạn cuối cùng cho mình. Tên quan hai Pháp đã ngả mũ, nghiêng mình trước xác anh: “Tôi xin tỏ lòng khâm phục người anh hùng trẻ tuổi”. Riêng mình, mình biết mỗi lần cùng anh lau khẩu “côn bát”, anh lau rất kỹ viên đạn cuối cùng và nói sẵn sàng dành cho anh, quyết không để lọt vào tay giặc. Được tin anh hi sinh mình vô cùng ân hận, sao mình đã dỗi, đã bỏ anh, không ở bên anh chiến đấu bảo vệ anh, mình biết nói sao với chị Tuyết.

Dọc đường kháng chiến mình đi tìm chị. Tìm chị ở khu 3. Tìm chị ở Việt Bắc. Một chiều đông, hành quân qua Thanh Cù, ghé vào quán nước bên đường mình nghe một bà cụ than thở: “Thương cô giáo quá! Trẻ đẹp thế mà mang mãi khăn tang. Chồng đã cưới đâu mà cứ về săn sóc bố mẹ chồng, nuôi dạy đàn em chồng, thân thiết như ruột thịt. Đâu như đang ở hiệu ảnh Như Trang cuối phố”. Nghe tên Như Trang, mình bàng hoàng, bỏ bát nước, chạy vượt hàng quân đến hiệu ảnh. Sững người thấy chị áo tím sờn vai với vành khăn trắng, ngồi bóc sắn giữa đàn em nhỏ, mình gọi:

- Chị ơi, chị là chị Tuyết?

Chị ngước mắt nhìn lên. Ôi, đây là đôi mắt mà anh Trang vẽ mãi.
- Sao chú biết tên tôi? Chớp chớp mắt, chị cắn môi, run rẩy. Chú Lâm phải không? Vào đây kể chuyện anh Trang đi!
- Thưa chị, em đang vội hành quân. Mình nghẹn lời.

------

Ông bà nội tôi khi đó đã làm rất nhiều thơ về bác Trang, tôi chỉ còn nhớ láng máng mấy bài:

Thơ của Bà:


Hình bà nội tôi

1/ bài này làm khi tiễn bác Trang quay lại mặt trận

Thu về con biệt mẹ đi
Cánh đồng trước cửa xanh rì lúa non
Đến nay lúa chín đỏ ngòm
Thu đi đông đến mong con chưa về
Nhớ thương lo ngại nhiều bề
Gió đông lạnh lẽo làm tê tái lòng
Ngoảnh nhìn tới chốn thư phòng
Nhện chăng án sách bụi lồng bút nghiên…

( bài này quên mất mấy câu cuối)


2/ Bài này làm khi nghe tin bác hy sinh

Anh Trang mất làm đau lòng mẹ
Chí phục thù đâu nhẽ là thôi
Các con còn bé con ơi
Thù nhà nợ nước mặc người mới căm

Hồn người khuất còn nằm trông đợi
Mượn tay ai trả mối thù sâu
Đông về rồi lại sang thâu
Tháng ngày đi mãi thương đau vẫn còn

Nhìn trời đất nước non tồn tại
Anh các con đi mãi không về
Người đi vẹn một lời thề
Kẻ còn chăng nhớ hận kia ngập trời

Thơ của ông:

1/ Đắp mãi mồ con sợ nặng con
Hỏi con, còn, mất, mất hay còn
Tình cha đã nặng vun chi đất
Phủ nặng mình con nghĩa nước non

2/ ( bài này là bài ông nội làm vào ngày giỗ hết [ giỗ lần thứ ba] bác Trang

rằng hết rằng còn con hỡi con
Lòng cha ngao ngán mấy thu tròn
Tình nhà thương kẻ duyên tan nát
Tin nước mừng ai trận thắng dồn
Những ước nghìn đêm nghìn mộng mị
nào lo một giỗ một mai mòn
Ngày về rợp phố sao cờ đỏ
Khỏ tả niềm vui nước vắng con

3/ Bài này là bài tiễn bác Trang ( ông nội và bác Trang cùng làm chung khi chèo thuyến trên đầm Chính Công- trước khi bác Trang quay lại mặt trận)

Văn nhân ngồi với quân nhân
Dưới vầng trăng sáng thuyền lần sóng êm
Nhấp nhô muôn ánh sao chìm
Sóng đầm man mác sóng tim dạt dào
bầu trời đây mảnh chinh bào
Nước non đây dấu anh hào là đây
Trăng xưa cũng nước non này
Tình say nước biếc trăng say mặn mà
vẳng nghe nhịp trống xa xa
Chạnh niềm tưởng lúc quân ra sa trường
Một đi là để tình vương
Niềm thương nỗi nhớ duyên càng thắm tươi


2- TƯ LIỆU MỚI:

Về cái chết của Tiểu đoàn phó Như Trang

Cái chết của Tiểu doàn phó Như Trang là cái chết của người chiến sĩ dũng cảm ,anh hùng .Cái chêt của anh làm trấn động dữ dội trong hàng ngũ cán bộ , chiến sĩ trung đoàn 52 Tây tiến . Song , cái chết của anh ra sao ? như thế nào ?thì không có ai giải đáp nổi . Có những anh em chưa hề biết mặt Như Trang cũng tưởng tượng ra cái chết của anh . Và , tất nhiên ai cũng xác nhận đó là cái chết vì dân , vì nước .

Cho đến nay bè bạn , đồng đội ,gia đình anh cũng nghi vấn : tại sao TÔI , người viết những giòng chữ này hiểu anh một cách tường tận như vậy ? Tại sao TÔI biết được trận đánh và tên quan hai Pháp ngả mũ , cúi đầu trước thi thể người chiến sĩ trẻ tuổi , anh hùng – người đã tiêu diệt hàng chục tên lính Lê dương thuộc quyền của hắn ? Để cho sáng rõ câu chuyện trên , tôi viết thêm phần tham khảo và dị bản để minh chứng cho cái chết của người chiến sĩ mà đến kẻ thù cũng phải khâm phục .

Khoảng cuối năm 1947 đầu năm 1948 tôi bị sốt rét điều trị ở bệnh xá trung đoàn đóng quân ở Châu Trang . Anh Như Trang bị thương trận Mường Lồ cũng điều trị ở đó . Thương binh ngày đó it,chỉ có nhiều bệnh binh bị sốt rét . Tôi là chiến sĩ đại đội 121 , Như Trang là đại đội trưởng . Đại đội trưởng và chiến sĩ khoảng cách rất lớn , quan hệ với nhau bằng sự chỉ huy và phục tùng , nên hầu như biết mặt mà không hiểu nhau .

Tôi là học sinh trung học ở Nam Định , toàn quốc kháng chiến tham gia bộ đội và theo đơn vị lên Tây Tiến . Năm 13 tuổi tôi học ở trường giòng nhà thờ Nam Định Ở trong tốp thánh ca nên được học nhạc lý ,học các loại đàn Harmonium., ha –uy-di , băng dô, an tô . Ơn chúa , tôi băt đầu đọc thánh kinh , thứ sáu không ăn thịt . Mẹ tôi hoảng sợ - Cho thàng này học trường nhà giòng khéo thành cố đạo mất ! Bà không cho tôi học trường nha giòng nữa . Song , tôi đã hấp thu được chút ít nhạc lý với giọng thánh ca mượt mà , quyến rũ .

Tôi gặp Như Trang ở bệnh xá Châu Trang .Tất nhiên anh với tôi dính nhau như hình với bóng , hai tâm hồn đồng điệu . Anh coi tôi như người em nhỏ . Sau những lần trao đổi về âm nhạc , về ca hát , chuyện trên trời dưới đất anh thường tâm sư với tôi , Từ chuyện cãi nhau với Tây hồi đóng quân ở Lò Lợn ,Hà Nội , chuyện quan hệ tới đồng chí Trần Độ ( sau này là trung tướng phó chính ủy quân Giải phóng Miền nam VN , Bí thư Trung ương Đảng , Trưởng ban Tuyên huấn trung ương ) đến chuyện tình của anh với chị Tuyết Tô … Anh còn rủ tôi , khi có điều kiện lên Vũ Ẻn thăm gia đình anh tản cư ra đó .

Tôi và anh thường hát những ca khúc : Cô láng giềng , đêm đông , Đàn chim Việt , chiều Yên Thế , Thăng Long hành khúc … Khi anh đàn , tôi hát . Khi cả hai anh em cùng song ca . Anh em thương bệnh binh quây chung quanh ngọn lửa võ tay hoan hô hoặc cùng hát theo .Tiêng hát cua chúng tôi làm ấm lòng chiến sĩ xa nhà , xua tan những đói rét , đau đớn , khắc nghiệt của núi rừng

Ca khúc “ tiếng cồng quân y “ anh sáng tác , Tôi là người được hát đầu tiên . . Tiếng hát trong veo của tôi hòa cùng tiếng đàn băng dô ròn tan của anh trong ánh lửa bập bùng giữa núi rừng thanh vắng . Chúng tôi hát với linh hồn của hàng trăm chiến sĩ chết vì sốt rét , cùng tiếng cồng của người trưởng bản mỗi khi đem chôn anh em đã mất trong manh chiếu , tạo nên cảm giác ớn lạnh trong tâm hồn . Tôi hát đoạn một , đến đoạn hai “…người chưa muốn chết , nước non chưa yên , nhưng mảnh rừng ác độc đã đưa người xuống nơi tuyền đài …” Tiến đan bỗng tặt lim , anh rơm rớm nước mát . Rồi, cả hai chúng tôi cùng ôm nhau …khóc !. Chúng tôi không hát thêm được nữa . Đó là những ngày sâu đậm , nhiều ý nghĩa được sống cùng anh .

Đầu năm 1950 cuộc kháng chiến có bước phát triển mới , Bộ tư lệnh Liên Khu tổ chức trung đoàn chủ lực , quả đâm thép của Liên khu . Tiểu đoàn Ký Con do tiểu đoàn trưởng Bùi Sinh chỉ huy từ Hải Phòng lên . Tiểu đoàn Lê Lợi do tiểu đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền từ Nam Định lên, Tiểu đoàn Nguyễn Huệ trong đó có đại đội 121của tôi do tiểu đoàn trưởng Hoàng Khải Tiến chỉ huy từ Tây Tiến xuống . Tiểu đoàn trợ chiến Hoàng Diệu mới thành lập do tiểu đoàn trưởng Hùng Quý chỉ huy . Trung đoàn chủ lực của Liên Khu được mang danh là “ Trung đoàn chủ lực Ký con ,phiên hiệu Trung đoàn 66 “. Các đơn vị về hội sư ở khu vực Ba Thá , Mỹ Đúc dọc sông Đáy . Sau đó , toàn đơn vị chuyển dịch về khu vực Quế Quyển , Vân Chu , Phù đạm , Phú Viên đối diện với thị xã Hà Nam cho gần mặt trận .

Tôi được điều động về tiểu ban Địch vận thuộc phòng Chính trị trung đoàn và được cử vào thành Nhà Hồ - Thanh Hòa , nơi đó có một đại đội hàng binh đóng quân . Tôi được phép tuyển chọn mấy anh em hàng binh về trung đoàn phục vụ cho công tác địch vận .

Lang thang ở đó hàng tuần lễ chưa biết chọn ai . Trời xui khiến thế nào , trong bữa cơm trưa , một hàng binh cao to như con gấu ngựa ngồi trước mặt tôi . Anh giới thiệu tên anh là Grand Wath Wath , người Angiªri . Trước khi đăng lính , anh là phu khuân vác ở cảng An giê . Tôi hỏi anh ở đơn vị nào trong quân đội Pháp ? Anh trả lời ở scadron Mường . ( ngày đó quân đội Pháp tổ chức xứ Mường tự trị đưa dân tộc Mường thành khu tự trị đối trọng với Chính phủ Kháng chiến của ta ,do quan lang Đinh Công Tuân đứng đầu ) . Tôi mừng như bắt được vàng .

-Scadron Mường rất rộng lớn ,anh đồn trú ở đâu ?

- Tôi đóng quân ở vùng Ngọc Lạc , Đầm , Nghẹ !

Tôi không tin ở tai mình

- Anh có biết trận Gò Mu ngày 20 tháng 10 -1947 không ? ( 1947 !?)

Anh nhìn tôi trân trân .

- Tại sao anh biết trận đánh đó ?

- Tôi là chiến sĩ đơn vị đó .

Mắt anh ta sáng lên .

Sau trận Gò Mu, tôi chạy sang hàng ngũ Việt Minh .

Nghe chuyện lạ , tôi gạn hỏi , Anh ta trả lời :

- Câu chuyện là thế này . Tôi là dân nghèo ở thủ đô An –giê , đăng lính để kiếm sống . Sĩ quan Pháp nói với tôi rằng : Việt Minh là tụi giặc cỏ , không cần đánh cũng tan . Chúng mày volontaire ( tình nguyện ) sang Việt Nam mà chơi . Con gái Mường đẹp lắm . Muốn mấy đứa cũng có . Vậy là tôi sang Việt Nam và đăng ký lên đất Mường .
-
Được sự thông báo và dẫn đường của tên Mường gian , trung đội Lê Dương dưới sự chỉ huy của viên trung uy người Pháp lần theo con suối cạn ,bất ngờ tấn công một căn nhà sàn không lớn lắm ở Gò Mu. Trung đội Lê dương ào lên không gặp phải sự chống cự nào . Một viên quan ba Việt Minh nhảy qua của sổ bị một băng Tôm sơn lia theo rụng như tàu lá . Còn một viên quan ba nữa chống cự với trung đội Lê dương từ 11 giờ 30 sáng tới 2 giờ chiều mới bị tiêu diệt .

Anh ta dừng lại , đôi mắt lim dim như hình dung lại trận đánh . Tôi hỏi :

- Tại sao anh biết được hai người ấy là hai ông quan ba ?
- Chúng tôi bắt được chiếc sà-cột , trong đó đựng giấy tờ và phương án tác chiến tấn công khu vực Ngọc Lạc , Lang Chánh . Chúng tôi chuẩn bị mọi phương án kháng cự . Nhưng không thấy các ông tiến hành chiến dịch .

- - Các anh có cả một trung đội Lê dương cùng chiếc nhà sàn nhỏ bé , chiến đấu với một chiến binh VN mà mấy tiêng sau mới hạ được thì …quá xoàng !

- Hắn lắc đầu -, Anh không biết đó thôi . Trung đội Lê dương này là những người linh sơn cước thiên chiến ,mà gần chục tên chết dưới chân cầu thang nhà sàn .Cách đánh của người chiến binh này rất lạ . Không hiểu ông ta học ở trường quân sự nào ?.Ai day ông ta mà giỏi thế ?.

- Nghe tiếng động , biết ông đứng một chỗ ,khi quân Lê dương xông lên thì đạn lại nổ một nơi . Bọn Lê dương leo lên đều trúng đạn vào mặt . Gần chục tên mất mạng . Loay hoay hơn ba tiếng đồng hồ mới hạ gục được đối phương .

- Tôi là lính cận vệ (garde corp )của viên trung úy nên theo sát từng bước người chỉ huy . Tiếng súng im rất lâu , bọn Lê dương và viên trung úy mới dám bò lên . Viên quan ba – Tôi sửa lại – Ông ta là quan tư (commandant ) chứ không phải quan ba – nằm gục trên khuông ( sàn tiếp giáp với nhà dùng để phơi phóng , rửa chân trước khi bước vào nhà ) máu loang đầy sàn , chẩy dài xuống đất , khẩu súng colt Bass vẫn cầm trong tay còn tỏa khói .

- Tôi đứng sau người chỉ huy , nên được chứng kiến câu nóiđầy thán phục của viên trung úy Pháp đối với người chiến sĩ VN .
- Je salut profond avant le mourir heroisquement du jeune officier! ( Tôi cúi đầu chào , thán phục trước caí chết anh hùng của người sĩ quan trẻ tuổi ).

- Trận đánh đó làm tôi hiểu ra rằng – Quân đội VN không phải là “bọn giặc cỏ không cần đánh cũng tan “ như bọn Pháp nói , mà là những người yêu nước , được tổ chức chặt chẽ Họ chiến đấu giải phóng dân tộc khỏi sự thống trị ,áp bức của bọn thực dân phản động Pháp . Giống như quân du kich Angieri chúng tôi dang sống ở trên xa mạc, Đội quân đó đã từng đốt cháy hàng chục đoàn công – voa của bọn Pháp . Rất tiếc chúng tôi không có được người chỉ huy tài giỏi như các anh .

- Sau trận đó , cùng viên trung úy được thuyên chuyển về căn cứ Phương Lâm , Hòa Bình , tôi vác súng chạy sang hàng ngũ Việt Minh . Mong rằng quân du kích Angieri chúng tôi cũng có những chiến sĩ oai hùng , dũng cảm như các anh .

- Lần đó, tôi tìm được mấy anh hàng binh vệ phục vụ cho công tac địch vận trung đoàn : Grand Wath Wath , tên Việt là Cao , Verne ngưởi Đức tên Việt là Đức , Antoine Vaise người Đức tên Việt là An.. Jean Chapuis người Pháp ,tên Việt là Giăng và một anh người Hung-ga-ri tên Việt là Vinh .

- Chúng tôi sống với nhau một thời gian ngắn nhưng rất thuận hòa , yêu thương Ngày ấy đói lắm . Các anh to lớn ăn khỏe luôn luôn đói . Bà con thương lắm , để phần các anh rổ khoai , rổ sắn …. Chúng tôi còn hò nhau mò hến ở sông Đáy đem về nấu cháo ăn ….

- Khoảng năm1956 tôi được tin anh Cao lấy vợ và ở nông trường Ba Vì . It lâu sau nghe tin anh cùng vợ về Angieri . Khoảng năm 1985 tôi được tin anh cùng vợ sang Ha Nội đi tìm chúng tôi , nhưng rất tiếc không được gặp . Nghe tin anh là một nhà công nghiệp cán thẹp giầu có , nổi tiếng ở Angieri .

- Sáu chục năm lục tìm những ký ức , quả thực khó khăn ,mất ngủ . Sống lại những ngày xưa cũ , cùng những giọt nước mắt rơi trên bàn phím Tôi mong rằng những dòng chữ này của tôi làm sống lại những trang sử vẻ vang của đoàn quân Tây tiên; ,làm sống lại phần nào hình ảnh để tri ân tiểu đoàn phó Như Trang , người chỉ huy lỗi lạc ,chiến sĩ kiêu hùng của trung đoàn Tây Tiến chúng ta .


Xong lúc 15 giờ ngày 15 tháng1 -2012 ( 24tháng chạp Kỷ Mão )

Trần Kỳ
Tập thể Hàng Không , Thụy Khuê , Bưởi
Tây Hồ , Hà Nội .

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2012

Như Huy dịch|Diễn văn của ông thợ cạo trong phim "Nhà độc tài vĩ đại" [a great dictator] *




Xin thứ lỗi, nhưng quả thật tôi không muốn làm hoàng đế. Đó không phải là công việc của tôi. Tôi không thể cai trị hay chinh phạt ai cả. Nếu được, tôi chỉ muốn giúp người khác, người Do-Thái, người không Do-Thái, người da trắng, hoặc da đen.

Tất cả chúng ta đều muốn giúp đỡ nhau, vì con người là như vậy. Tất cả chúng ta đều muốn sống vì hạnh phúc của người khác chứ không phải trên sự khốn khổ của người khác. Chúng ta không hề muốn căm ghét hay khinh bỉ nhau. Thế giới này có đủ chỗ cho mọi người, và trái đất phong nhiêu đủ nuôi sống tất cả chúng ta

Con đường của đời sống đã có thể tự do và đẹp đẽ. Nhưng chúng ta đã lạc lối mất rồi.

Lòng tham đã đầu độc tâm hồn chúng ta và giam hãm chúng ta trong nỗi hận thù; chính nó đã dẫn lối chúng ta tới sự khốn cùng và làm chúng ta đổ máu

Tốc độ của chúng ta được phát triển để trở nên nhanh hơn, nhưng chúng ta chỉ tự giam hãm chính mình. Máy móc giúp chúng ta giàu có, nhưng lại khiến lòng tham của chúng ta trở nên vô đáy.Tri thức chỉ khiến chúng ta thêm cay nghiệt, trí thông minh chỉ khiến chúng ta cứng lòng và không biết thương-nhau. Thay vì xúc-động, chúng ta chỉ tin vào tư duy; Chúng ta cần nhân tính chứ không cần máy móc; cần sự tử-tế và mềm-lòng chứ không cần trí thông minh

Thiếu đi những phẩm chất này, cuộc đời sẽ chỉ còn bạo lực và chúng ta sẽ đánh mất tất cả. Máy bay và sóng truyền thanh đã đưa chúng ta lại gần nhau hơn. Bản chất của các phát minh này là nhằm kêu gọi lòng tốt của con người, kêu gọi tình bằng hữu phổ quát, tức điều sẽ giúp đoàn kết tất cả chúng ta. Ngay lúc này đây, lời tôi nói đang được hàng triệu con người khắp thế giới lắng nghe, hàng triệu đàn ông, đàn bà, và bé thơ đang tuyệt vọng; Họ chính là nạn nhân của một hệ thống khiến con người tra tấn và giam giữ những con người vô tội. Với những ai có thể nghe thấy tiếng tôi, tôi xin nói: đừng tuyệt vọng

Sự cùng khổ mà chúng ta chịu đựng hôm nay chỉ là khoảnh khắc đang tàn lụi của lòng tham, và nó biểu lộ nỗi đắng cay nơi những kẻ đang sợ hãi trước sự tiến bộ của con người. Sự căm ghét con người sẽ phải chấm dứt, mọi kẻ độc tài sẽ phải chết, và quyền lực chúng đánh cắp từ tay nhân dân sẽ trở lại với nhân dân. Kể cả khi con người có ngã xuống, sự tự do sẽ không bao giờ tàn lụi…

Hỡi những người lính, đừng bán mình cho lũ thú dữ, cho những kẻ khinh miệt các bạn và bắt các bạn làm nô lệ, những kẻ đưa các bạn vào hệ thống và kiểm soát ý nghĩ, hành động, và cảm xúc của các bạn, những kẻ trui rèn các bạn, kiểm soát khẩu phần của các bạn, xem các bạn như gia súc, và dùng các bạn như những con tốt thí. Đừng bán mình cho lũ người trái tự nhiên, lũ người máy, với tâm địa máy. Các bạn không phải là những bộ máy. Các bạn không phải là gia súc. Các bạn là Người. Tự đáy tim mình, các bạn biết yêu-thương người khác. Các bạn không căm ghét, vì chỉ những kẻ không được yêu thương mới căm ghét. Hỡi những người lính; đừng chiến đấu để nô lệ kẻ khác, hãy chiến đấu để giải phóng con người. Chương 17 nơi sách Luca có viết:” Nước đức Chúa Trời ở trong các người”. Không phải trong một người hay một nhóm người, mà trong tất cả chúng ta: tức trong chính các bạn-nhân dân.

Các bạn-nhân dân, các bạn có sức mạnh sáng tạo ra máy móc, sáng tạo ra hạnh phúc. Các bạn có sức mạnh làm cho cuộc sống trở nên tự do, đẹp đẽ, biến nó thành một cuộc thám hiểm tuyệt vời. Vậy, nhân danh dân chủ, hãy sử dụng sức mạnh ấy, hãy đoàn kết lại. Chúng ta hãy chiến đấu cho một thế giới mới, một thế giới tử tế, nơi con người có cơ hội có việc làm, nơi bạn sẽ có tương lai, có tuổi già và có được sự bảo vệ.

Cũng bằng việc hứa hẹn những điều này, lũ thú dữ đã bước lên được chiếc ngai quyền lực. Song chúng chỉ nói dối mà thôi. Chúng không hề, và sẽ không bao giờ giữ lời hứa. Những kẻ độc tài giành lấy tự do, nhưng lại bắt người khác làm nô lệ. Giờ đây, chúng ta hãy chiến đấu để hoàn thành lời hứa ấy. Hãy chiến đấu để giải phóng thế giới, để xoá bỏ các biên giới, để huỷ giải lòng tham, sự hận thù, và tâm địa không-biết-khoan-dung. Hãy chiến đấu cho một thế giới có-tình-có-lý, một thế giới nơi khoa học và sự tiến bộ sẽ mang lại hạnh phúc cho tất cả chúng ta.

Hỡi những người lính, nhân danh dân chủ, hãy đoàn kết lại.

Hãy ngước nhìn lên bầu trời. Mây đen đang tan biến. Mặt trời đang ló rạng. Từ đêm tối, chúng ta đang bước ra ánh sáng. Chúng ta đang đến với một thế giới mới. Một thế giới mà ở đó con người sẽ vượt lên khỏi sự hận thù và tàn bạo.

Tâm hồn con người đang được chắp cánh, và cuối cùng, hắn đã bắt đầu bay. Bay vào cầu vồng, vào ánh sáng của niềm hy vọng, vào tương lai, một tương lai rực rỡ thuộc về bạn, về tôi về tất cả chúng ta, hãy ngước nhìn lên, hãy ngước nhìn lên bầu trời…


*nguồn: http://luis.impa.br/chaplin.html
Có tham khảo bản dịch của anh Hoàng Ngọc-Tuấn, ở đây

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012

Mệnh lệnh nhất quyết trong triết học của Kant

Mệnh lệnh nhất quyết (Categorical Imperative), cũng xem: NHƯ THỂ, ĐỘC LẬP (SỰ, TÍNH), TỰ DO (SỰ), NGOẠI TRỊ (SỰ), MỆNH LỆNH, QUY LUẬT, CHÂM NGÔN, TRIẾT HỌC THỰC HÀNH, Ý CHÍ.

Không nghi ngờ gì, mệnh lệnh nhất quyết là một trong những phương diện nổi tiếng nhất và gây nhiều tranh luận nhất trong triết học thực hành của Kant. Đến nay nó đã được diễn giải theo vô số cách: như nguyên tắc của một môn triết học hình thức rỗng tuếch; như một sự vinh danh cho đức hạnh của người Phổ là sự tuân lệnh mù quáng trước tiếng gọi của nghĩa vụ; như một nguyên tắc nền tảng cho một nghiên cứu duy lý, khách quan về hành vi luân lý (moral)

Với bản thân Kant, mệnh lệnh nhất quyết dường như bao gồm cả hai khát vọng triết học có vẻ là không nhất quán. Khát vọng thứ nhất, giản đơn hơn, chính là tìm cách thiết lập mệnh lệnh nhất quyết như một nguyên tắc có tính chuẩn tắc dùng để phân biệt các châm ngôn (maxims) [ theo Kant: châm ngôn là các nguyên tắc chủ quan của hành động, chứa đựng một sự quy định phổ biến của ý chí và nhiều nguyên tắc thực hành- ND] về hành động, trong khi khát vọng thứ hai là coi nó như phương tiện để biện minh cho một nghiên cứu đặt trên nền tảng siêu hình học về sự tự do như thể (điều gì đó-ND) độc lập với ý chí. Thảo luận tiếp theo đây cốt nhấn mạnh vào tính nhất quán trong nghiên cứu của Kant về mệnh lệnh nhất quyết, và cụ thể là về việc liệu nó có thể đứng vững được chăng nếu không có một một môn siêu hình học về tự do.

Trước khi xem xét tuyên bố của Kant về mệnh lệnh nhất quyết trong SHĐL ( Siêu hình học về đức lí) và PPLTTT( Phê phán lí tính thuần tuý) , có lẽ sẽ là hữu ích nếu ta định nghĩa trước nội dung của hai thuật ngữ “mệnh lệnh” và “nhất quyết”. Kant định nghĩa một mệnh lệnh là mọi “mệnh đề biểu hiện một hành động tự do khả hữu, qua đó một mục đích nào đó được hiện thực hoá (L (Lo-gic) tr.58). Các phát biểu như thế được đặt cơ sở trên một dạng “tính tất yếu” khác với tính tất yếu nơi các phát biểu lý thuyết; Hơn là việc nhấn mạnh vào cái Đang-là, các phát biểu (dạng mệnh lệnh-ND) nhấn mạnh vào cái Phải-là. Và cũng như việc, qua một mệnh đề, ta có vô số cách nhấn mạnh vào cái “Đang là”, cũng sẽ có vô số cách khác nhau nhấn mạnh cái “Phải là”. Có vô số hình thức “mệnh lệnh”, mà trong đó “nhất quyết” chỉ là một trường hợp, song là một trường hợp đặc biệt và tiêu biểu.

Hình thức của tính tất yếu biểu lộ qua sự “Buộc phải” có chung trong tất cả các mệnh lệnh, theo Kant, thể hiện “mối quan hệ của một qui luật khách quan thuộc lý tính với một ý chí không bị xác quyết một cách tất yếu bởi qui luật đó do cấu tạo có tính chủ quan của ý chí ấy” (SHHĐ tr. 413, tr. 24). Mệnh lệnh có thể hoặc là giả thiết, hoặc nhất quyết, và sự phân biệt ở đây chỉ phụ thuộc vào việc liệu mối quan hệ giữa quy luật với ý chí có nhắm hướng tới một mục đích hay không. Trong trường hợp là mệnh lệnh giả thiết, mối quan hệ này sẽ nhắm tới việc đạt tới một mục đích, trong khi với trường hợp mệnh lệnh nhất quyết thì không. Kant còn chia nhỏ mệnh lệnh giả thiết thành hoặc là có tính quả quyết (assertoric) hoặc là có vấn đề (problematic) tuỳ theo việc chúng nhắm tới mục đích thực hữu (actual) hay khả hữu (possible). Các nguyên tắc của một mệnh lệnh giả thiết thực hữu được mô tả như “các quy tắc (rules) của kĩ năng”, hay “mệnh lệnh kĩ thuật” (tài khéo) [quy định phương tiện cần thiết để đạt tới một cứu cánh (mục đích): ví dụ muốn giàu phải thu nhiều hơn chi-ND], trong khi các nguyên tắc của một mệnh lệnh giả thiết khả hữu là “những tư vấn của sự khôn ngoan”, hay mệnh lệnh có tính thực tiễn, thực dụng (pragmatic imperatives) [ ví dụ: hạnh phúc ( kể cả những quy định về ăn, ở , mặc… có lợi cho sức khoẻ-ND]

Thật rõ ràng là trong SHHĐ và PPLTTT Kant cho rằng truyền thống triết học đạo đức cũ đã chỉ khảo sát các hình thức mệnh lệnh giả thiết (xem, ví dụ bảng tổng kết các nền tảng của những nguyên tắc đạo đức trong PPLTTT, tr 40, tr.41). Tất cả chúng đều trình ra các tuyên bố về hình thức “hành động nhằm thực hiện mục đích X ( X=hạnh phúc, thoả mãn, beatitude [sự vinh phúc], sự phúc lợi, sự hoàn hảo, sự vinh danh Chúa). Mệnh lệnh nhất quyết , trái lại, lại tuyên bố một hành động tất yếu “không cần tham chiếu tới bất kì mục đích nào” mà chỉ quan tâm tới “hình thức của hành động và nguyên tắc mà nó tuân theo” (SHHĐ tr. 416, tr. 26). Ở trường hợp này tính tất yếu nối kết qui luật khách quan với ý chí sẽ “ giữ vai trò như một nguyên tắc thực hành hiển nhiên” (tr. 415, tr. 25)

Kant đưa ra một số điều kiện giải thích việc vì sao mệnh lệnh này của qui luật ( khách quan) lại có tính nhất quyết đối với một ý chí chủ quan. Trước hết là do mệnh lệnh này có tính hình thức. Tính hình thức này đến từ việc mệnh lệnh ấy không hề quan tâm tới việc thực hiện bất kỳ mục đích cụ thể nào; có nghĩa là mệnh lệnh nhất quyết “không hề quan tâm tới các vấn đề thuộc hành động và kết quả mà hành động ấy nhắm tới, nhưng chỉ quan tâm tới hình thức của hành động và nguyên tắc mà hành động ấy phải tuân theo” (tr. 416, tr. 26). Một điều kiện khác đòi hỏi rằng mệnh lệnh nhất quyết phải được nhận ra ngay lập tức, và chính điều kiện này sẽ dẫn tới điều kiện quan trọng nhất: mệnh lệnh nhất quyết nhấn mạnh tính phổ quát của qui luật. Điều này giải thích tuyên bố về những gì mà Kant mô tả là một mệnh lệnh nhất quyết duy nhất, tức “hành đông chỉ dựa theo châm ngôn, qua đó bạn đồng thời có thể muốn rằng -nó (châm ngôn ấy-ND) trở thành một quy luật phổ quát” (tr. 421, tr. 30).

Kant sử dụng tuyên bố này về mệnh lệnh nhất quyết như “bộ chuẩn tắc cho việc đánh giá vể mặt đạo đức mọi hành động của chúng ta (tr.424, tr.32). Ông cũng sử dụng nó để làm rõ các hành động được hoàn tất trong phạm vi của mệnh lệnh về nghĩa vụ. Những mệnh lệnh như thế có tính nhất quyết khi chúng tuân theo hình thức “hành động như thể châm ngôn về hành vi của bạn, thông qua ý chí, phải trở thành những định luật tự nhiên phổ quát (tr.421, tr.30). Tuy nhiên Kant đã không hài lòng với các kết quả đáng kể có thể đạt tới được nhờ vào sự sử dụng mệnh lệnh nhất quyết theo kiểu bộ chuẩn tắc. Bản thân mệnh lệnh nhất quyết cũng phải được biện hộ: có nghĩa là, cần thiết phải chứng minh một cách tiên nghiệm rằng thật sự có một mệnh lệnh kiểu này”. Song không chỉ có thế, mệnh lệnh nhất quyết cũng bị đòi hỏi phải “cho thấy rằng có một qui luật thực hành, đòi hỏi bản thân một cách tuyệt đối và không cần có bất kì động lực nào khác, và rằng nghĩa vụ sẽ là điều đến sau qui luật này (tr.425, tr.33). Và kết quả là ông đã phân chia qui luật thực hành và “đặc tính đặc biệt của bản chất con người” theo cách giống với sự phân chia giữa các lãnh địa thuộc xuất tượng (noumenal) và thuộc hiện tượng (phenomenal)trong triết học lý thuyết của ông

Nhu cầu phải chứng minh sự hiện hữu của mệnh lệnh trước hết dẫn tới việc truy tìm dạng qui luật đòi hỏi một cách tuyệt đối, và rồi tới “điều gì đó, như thể một mục đích tự thân,- có thể trở nên một nền tảng cho các quy luật xác quyết (p. 428, p. 35). Chính điều này sẽ tạo nên nền tảng cho cả mệnh lệnh nhất quyết và qui luật thực hành. Kant chuyển hướng sự truy tìm một mục đích tự thân sang sự truy tìm các hữu thể với “giá trị tuyệt đối”, tức những kẻ tự mình là các mục đích. Ông nhanh chóng định dạng các hữu thể này là các “nhân cách” [persons] và tiến hành việc tìm tính phổ quát của mệnh lệnh nhất quyết “từ sự quan niệm về những gì là một mục đích tất yếu cho mọi người bởi mục đích này chính là một mục đích tự thân”. Công thức của mệnh lệnh này giờ đây là: “ hành động sao cho tính người không những nơi nhân cách của bạn mà cả trong nhân cách của bất cứ ai lúc nào cũng được bạn sử dụng như là cứu cánh (mục đích) chứ không bao giờ như một phương tiện” (tr.429, tr.36). Mệnh lệnh này sẽ được sử dụng như chuẩn tắc để phán đoán các châm ngôn về các trường hợp cụ thể.

Kant công nhận rằng việc tiến tới một”môn siêu hình học của đức lí”, tức môn siêu hình học, một cách tất yếu, củng cố cho mệnh lệnh nhất quyết,- sẽ đưa triết học thực hành tới một vị trí bấp bênh. Mối nguy này còn được tiếp lực bởi tầm quan trọng mà Kant gán cho khái niệm tự do. Chính tự do đã cho phép chuyển tiếp từ một “môn siêu hình học về đức lí” tới “một phê phán lý tính thực hành”, song tự do cũng lại vừa biện minh (cho), vừa được biện minh (bởi) mệnh lệnh nhất quyết. Tình huống này có nguyên nhân từ hai cách hiểu của Kant về khái niệm tự do. Ông phân biệt giữa tự do tiêu cực, tức sự tư do bị xác quyết bởi các nguyên nhân từ bên ngoài (ngoại trị), và sự tư do như điều gì độc lập (khỏi các nguyên nhân và động lực từ bên ngoài-ND), tức sự tự do nơi một chủ thể tự buộc mình phải tuân theo quy luật. Với dạng tự do sau, ý chí tự là một quy luật cho chính nó, tức không gì khác hơn việc hành động dựa theo một châm ngôn có thể “đồng thời coi bản thân như một quy luật phổ quát áp đặt vào đối tượng” (tr. 421, tr. 30). Ý tưởng về sự tự do như điều gì đó độc lập, do đó, đã được phát hiện như thể nền tảng cho mệnh lệnh nhất quyết, tức như một giả định tất yếu mà chúng ta tự nguyện áp đặt vào bản thân và vào các hữu thể duy lí khác trong chừng mực những hữu thể ấy cũng sở hữu một ý chí hay ý thức về quan hệ nhân quả nơi hành động của họ (tr.449, tr.51). Vì vậy, chúng ta chỉ có được sự tự do kiểu này khi chúng ta tạo ra các mệnh lệnh nhất quyết.

Định hướng cho những sự phê phán mệnh lệnh nhất quyết của các triết gia sau Kant có thể được tóm gọn lại một cách đầy đủ nhất trong câu của Nietzsche “Mệnh lệnh nhất quyết toả mùi nghiệt ngã” (Nietzsche, 1887, p. 65). Nỗ lực của Kant nhằm đặt nền tảng cho mệnh lệnh nhất quyết bằng một ý niệm tích cực về tự do như điều gì độc lập đã thất bại, bởi (với các triết gia sau Kant-ND), tự do và mệnh lệnh nhất quyết đã bị định nghĩa thuộc các phạm vi có tính phản động như sự đàn áp hay sự ngăn chặn nhắm vào ảnh hưởng (tự nhiên) từ bên ngoài, cũng như nhắm vào khuynh hướng tình cảm và cảm xúc của con người. Sự phê phán kiểu này lên tới mức một tuyên bố cực đoan trong một xu hướng phê phán do Hegel và Schopenhauer khởi đầu nhắm vào mệnh lệnh nhất quyết. Hegel, trong khi nhìn nhận một cách có cảm tình đối với định nghĩa của Kant về sự tự do độc lập với ý chí, vẫn thấy sự lập thức luân lý của nó trong mệnh lệnh nhất quyết là có tính hình thức và trừu tượng, do đó, tất yếu sẽ ngăn chặn “mọi nội dung và sự cụ thể hoá”. Schopenhauer coi mình là kẻ tuyên án tử hình cho mệnh lệnh nhất quyết và quy luật đạo đức, và cùng với đó là toàn bộ nỗ lực đặt cơ sở cho triết học thực hành trên sự tự do của ý chí. Các tác phẩm gần đây về đức lý học của Kant nhìn chung đều chấp nhận những nghi ngờ này về cơ sở siêu hình học của mệnh lệnh nhất quyết và tập trung vào sự sử dụng nó như một công thức có tính chuẩn tắc để trắc nghiệm tính nhất quán và tính phổ quát nơi các châm ngôn về hành động (xem O'Neill, 1989)

xem thêm hạnh phúc

(Như Huy dịch từ "Một từ điển về Kant" [a Kant dictionary], tác giả Howard Caygill, NXB Blackwell xuất bản 2000, mục từ Mệnh lệnh nhất quyết, từ tr.99- tr.102)

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2012

Quan niệm của triết học Kant về hạnh phúc

Hạnh phúc (Hy Lạp: eudaimonia, Ý: felicitas, Đức: Gluckseligkeit, Anh: Hapiness) xem thêm TỰ TRỊ (TÍNH, SỰ) TỰ DO, THIỆN (CÁI, SỰ), THIỆN TỐI CAO (CÁI, SỰ), HY VỌNG, VUI SƯỚNG (SỰ)

Trong tác phẩm Nicomachean Ethics, Aristotle khám phá rằng “sự thiện chủ yếu” hay “mục đích cao nhất” của hành vi con người- tức “điều gì đó có tính tối hậu và viên mãn, là mục đích của hành động” (Aristotle, 1941, 1097b, 22)-chính là hạnh phúc. Nghiên cứu của ông về hạnh phúc đạt tới sự cân bằng đáng nể: hạnh phúc hoàn hảo bao hàm việc đem lại đời sống tĩnh lự, song không loại trừ các khía cạnh khác của cuộc sống thiện hảo như lòng can đảm, sự tự do và sự vui sướng (nt.,1178a-1179). Tuy nhiên, quan điểm cân bằng của Aristotle về hạnh phúc dần bị chuyển hóa bởi sự phân chia theo kiểu thuyết Plato giữa hạnh phúc và sự viên mãn của trí tuệ (mind) và linh hồn,- với lạc thú (pleasure) xác thịt.

Trong tác phẩm của Aquinas, sự phân biệt này thể hiện dưới hình thức của kinh nghiệm khách quan về beatitudo(hạnh phúc linh thánh) và kinh nghiệm chủ quan, ít được coi trọng hơn của eudaimonia (Hạnh phúc trần tục). Sự phân biệt này về tổng thể vẫn được Descartes duy trì. Với ông này, hạnh phúc [thông thường](heur)” chỉ phụ thuộc vào các sự vật bên ngoài”, và điều này là đối lập với hạnh phúc linh thánh (béatitude) bao hàm “một sự toại ý hoàn hảo của trí tuệ cùng sự thỏa mãn nội tâm” (thư gửi Elizabeth, 4 tháng 8 năm 1645, Descartes, 1981, tr.164). Kant bảo toàn sự phân biệt này trong một hình thức có hiệu chỉnh, ở đó, hạnh phúc khách quan sinh ra từ hành động tự trị (không phụ thuộc vào bất kì động lực nào-ND) và tự do, còn hạnh phúc chủ quan sinh ra từ các cảm xúc bên ngoài (heteronomous) đến từ cảm giác vui sướngvà hài lòng. Một sự đối lập giữa hạnh phúc và tự do chi phối trọn vẹn thảo luận của Kant về hạnh phúc. Nó xuất hiện rõ nhất trong cuốn SHHĐL (Siêu hình học về đức lý), nơi có sự phân biệt giữa “eidaimonism (các nguyên tắc của hạnh phúc)” và “eleutheronomy”(nguyên tắc tự do của sự tự ban bố luật lệ nội tại), với xác nhận kèm theo sự phân biệt này rằng” nếu các nguyên tắc của hạnh phúc được làm thành nguyên tắc cơ bản của hành động, kết quả sẽ là “euthanasia” (cái chết dễ dàng) cho mọi luân lý” (SHHĐL tr.378, tr.183). Sự vui sướng, thỏa mãn đến trước (là động lực cho-ND) nghĩa vụ hay cho sự tuân thủ theo luật lệ thì phụ thuộc vào cảm tính và là bộ phận của quy tắc tự nhiên, trong khi sự vui sướng thỏa mãn đến sau ( là kết quả của) nghĩa vụ mới đặt cơ sở trên sự tự do khả niệm (tự do thông qua suy lí, lý tính- tiên nghiệm và không phụ thuộc vào các luật lệ tự nhiên, duy nghiệm-ND) và mới là bộ phận của quy tắc đạo đức. Sự phân biệt giữa hai nghiên cứu về việc tuân thủ luật lệ đã sinh ra một số hệ quả-tức những gì xuất hiện khắp triết học thực hành của Kant.

Sự đối lập giữa eudaimoniaeleutheronomy được phát triển thành một loạt hệ luận nhất quán. Hệ luận đầu tiên, như đã được đề cập, là sự phân biệt giữa các quy tắc luân lý và quy tắc tự nhiên; quy tắc tự nhiên là vương quốc của các quan hệ nhân quả, của xu hướng cảm tính (inclination) và của sự ngoại trị (SHHĐL tr. 216, tr.44). Các nguyên tắc đặt cơ sở trên hạnh phúc và tính ngoại trị đều thuộc thế giới vật chất, chủ quan, bất toàn. Chúng đối lập lại với các nguyên tắc đặt cơ sở trên sự tự do và tự trị, tức những gì có tính hình thức và phổ quát (CSSĐ tr.442, tr.46). Ý tưởng về sự thiện đồng nghĩa với hạnh phúc là một ý tưởng rất khó xác định. Lý do là có vô số cái thiện khác nhau tiềm tàng nơi ý tưởng ấy. Trong khi đó, ý tưởng về sự thiện đồng nghĩa với tự do thì rất tập trung và xác định được (PPNLPĐ [Phê Phán Năng Lực Phán Đoán] ss83). Nhu cầu tìm kiếm hạnh phúc ( thông qua việc thực hiện nghĩa vụ-ND) tác động đến ý chí một cách gián tiếp; nhà duy lạc thú thực hiện nghĩa vụ” chỉ bởi niềm hạnh phúc mà họ dự đoán trước”, trong khi nghĩa vụ đòi hỏi ý chí một cách trực tiếp, và không hướng tới bất kỳ cứu cánh nào ngoài bản thân nó (SHHĐL tr. 377, tr.183). Kết quả là, mệnh lệnh, nếu có liên quan tới nhu cầu kiếm tìm hạnh phúc sẽ biến thành những lời “mách nước khôn ngoan có tính giả thuyết” với các điều kiện như là: chỉ nên làm điều này hay điều kia thì sẽ có hạnh phúc hoặc không có hạnh phúc”. Trong khi đó, mệnh lệnh thuộc luật lệ của tự do là những đòi hỏi nhất thiết và không phụ thuộc vào bất kì điều kiện nào” (CSSĐ [ đặt cơ sở cho một môn siêu hình học đức lí] tr.146, tr.26). Kiểu lập luận đối lập này dẫn tới mệnh đề có tính áp đặt (repressive proposition) trong cuốn LSPQ [ Ý niệm về một lịch sử phổ quát với mục đích toàn hoàn vũ] rằng: nhân tính “không nên tham lam những sự hoàn hảo hay hạnh phúc nào khác hơn những gì họ đạt được bằng chính lý tính chứ không phải bằng bản năng (tr.19, tr.43)

Tuy nhiên trong khi loại hạnh phúc khỏi bất kỳ vai trò nào có can hệ tới sự quyết định hành động của ý chí, Kant vẫn coi nó [hạnh phúc] như một phương diện quan trọng của cái thiện tối cao thuộc con người. Tại một chỗ trong cuốn PPLTTT [Phê phán lí tính thuần tuý), ông giả định rằng hạnh phúc sẽ tự động đến theo tự do: “Tôi không nói về hạnh phúc tối đa vì nó chỉ là kết quả đương nhiên của tự do” ( PPLTTT B 373). Tại đây cấu tạo cho phép sự tự do tối đa có thể có được đã được miêu tả như một Ý tưởng tất yếu cho sự tiến bộ của con người, tức là điều sẽ làm cho hạnh phúc xuất hiện; tuy nhiên, trong PPNLPĐ chính hạnh phúc lại là ý tưởng [ đơn thuần về một trạng thái-ND] mà con người muốn “ làm cho trạng thái ấy tương ứng hoàn toàn với Ý tưởng trong những điều kiện đơn thuần thường nghiệm”(ss83) *. Trong PPLTTT, Kant đã ngầm hòa giải các vế(terms) của sự đối lập này bằng những câu trả lời trước ba câu hỏi sinh ra từ mối quan tâm của lý tính:”1. Tôi có thể biết gì?, 2. Tôi phải làm gì?, 3.Tôi có thể hy vọng gì?” ( PPLTTT A 804/B 832). Hạnh phúc hiện lên trong những câu trả lời này, dù không phải là một trạng thái được nhắm tới cuối cùng, song cũng là điều gì đó xứng đáng. Sự thiện tối cao bao hàm cả dạng hạnh phúc được tưởng thưởng hay "luân lý”(morality) lẫn hạnh phúc thực tế (actual happiness), tức là nó sẽ không hoàn tất và đủ đầy nếu thiếu đi một trong hai yếu tố kể trên. Đặc biệt là với Kant, việc trục xuất hạnh phúc ra khỏi sự xác định hành vi luân lý chỉ là để đưa nó trở lại trong vai trò một bè đệm thiết yếu nơi cái thiện tối cao mà thôi.


Xem thêm: Mệnh lệnh nhất quyết


(Như Huy dịch từ "Một từ điển về Kant" [a Kant dictionary], tác giả Howard Caygill, NXB Blackwell xuất bản 2000, mục từ Hạnh phúc, từ tr.221- tr.223)

------------------------------
*Nguyên văn cả đoạn:

“Khái niệm về hạnh phúc (Glueckseligkeit) không phải là một khái niệm được con người rút ra từ các bản năng của mình, và như thế là rút ra từ tính thú vật trong bản thân con người, mà là Ý tưởng đơn thuần về một trạng thái mà con người muốn làm cho trạng thái ấy tương ứng hoàn toàn với Ý tưởng trong những điều kiện đơn thuần thường nghiệm ( Là điều không thể thự hiện được). Con người phác họa ra Ý tưởng này cho chính mình và phác họa bằng nhiều cách khác nhau thông qua giác tính trong sự kết hợp chặt chẽ với trí tưởng tượng và các giác quan; đồng thời cũng thường thay đổi luôn khiến cho Tự nhiên, giả sử giả sử có hoàn toàn phục tùng ý thích tùy tiện của con người đi nữa, cũng tuyệt nhiên không thể có được một quy luật chắc chắn, phổ biến nhất định để hài hòa với khái niệm luôn chao đảo này, tức, với mục đích mà con người tùy tiện đặt ra cho chính mình.(Tr. 465, Phê phán năng lực phán đoán , Mỹ học và mục đích luận, Bùi Văn Nam Sơn Dịch, NXB Tri Thức, 2006.

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

Tựa vòng cánh cối xay còn quay ( lời việt ca khúc: The windmill of your mind)

(bản thu đặc biệt để tưởng nhớ chú Chu Trung Can ( tức dịch giả Chu Lan Đình)

Lời Việt: Như Huy
Người hát: Như Huy
Đệm piano: Nhạc sĩ Đức Trí




Quay,
Tựa một vòng tròn chầm chậm quay,
Tựa một chiếc bánh xe tròn xoay
Tựa một guồng sợi vàng rực tơ êm
Dù tận kiếp vẫn chưa ngừng quay
Tựa giọt sương xoay nhẹ đầu non xa
Tựa vành sáng những chiếc dù hoa
Tựa nhịp nôi êm đềm tuổi ngây thơ
Tròn trịa giống dáng trăng ngày xưa
Tựa một kim giây đồng hồ vô tư
Đều đều đếm tháng năm dần qua
Tựa giọt lệ vẫn thầm lặng nghiêng rơi
Là quả đất có em và tôi
Tựa vòng cánh cối xay còn quay
Tận vùng ký ức xa tầm tay


Tựa hầm mộ đưa người vào mê cung
Một lần lỡ bước không đường ra
Hầm mộ sâu trong lòng đồng hoang vu
Mặt trời vĩnh viễn chưa hề soi
Tựa vòng quay cánh cửa vào cơn mơ
Chầm chậm mãi mãi không ngừng xoay
Tựa hồn nhiên cánh diều tuổi thơ ngây
Còn liệng mãi tít cao trời mây
Tựa một kim giây đồng hồ vô tư
Đều đều đếm tháng năm dần qua
Tựa giọt lệ vẫn thầm lặng nghiêng rơi
Là quả đất có em và tôi
Tựa vòng cánh cối xay còn quay
Tận vùng ký ức xa tầm tay

Lời chợt vang lên từ nguồn tâm tư
Thoảng nhẹ bên tai tựa cơn gió
Mùa hè xưa qua rồi còn nuối tiếc
Lời tình xưa vẫn còn tha thiết
Người tình xưa vẫn còn dựa vai nhau
Vẫn bước tiếp những dấu chân ngày xưa
Lòng bàn tay gõ nhịp vào hư vô
Tựa nhịp trống tiễn đưa mùa thu
Thềm nhà xưa vẫn như đợi ai
Và rời rạc lời bài hát cũ
Còn lại đây bao khuôn mặt quen thân
Mà tuổi tên đã vùi trí nhớ
Ngày mình nghe cuộc đời chợt xa xôi
Ngày mình biết tháng năm dần trôi
Biết lá thu rơi vàng trên tóc rối
Biết nỗi đau có bao giờ nguôi

Tựa một vòng tròn chầm chậm quay,
Tựa một chiếc bánh xe tròn xoay
Tựa một guồng sợi vàng rực tơ êm
Dù tận kiếp vẫn chưa ngừng quay
Tựa hình bóng cũ đang chìm khuất
Tựa vòng cánh cối xay còn quay
Tận vùng ký ức xa tầm tay


Lời Việt © Như Huy 2011