Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

Một cuộc tranh luận giữa Ngải Vị Vị và Paul Gladston

Hai bài viết dưới đây, một bài do Ngải Vị Vị, nghệ sĩ và nhà tranh đấu Trung Hoa đăng trên guardian, phản đối triển lãm mới đây có tên "Nghệ thuật của sự biến dịch: Những xu hướng mới từ Trung Hoa" được tổ chức tại gallery  Hayward, London, và bài thứ hai, do giáo sư Paul Gladston, giáo sư đại học  Nottingham, London, phản biện lại bài viết của Ngải Vị Vị, đăng trên radian

Đây là một cuộc trao đổi rất hữu ích cho nghệ thuật đương đại Việt Nam nói chung, khi nó đề cập đến các tình huống tương tự với tình huống tồn tại của nghệ thuật  đương đại Việt Nam, ví dụ tình huống của mối quan hệ giữa chính trị với nghệ thuật, tình huống của sự khác biệt văn cảnh giữa người xem phương Tây với các tác phẩm nghệ thuật đương đại địa phương, với bản chất luỵ văn cảnh, v.v. Vì lẽ đó, tôi (Như Huy) đã dịch cả hai bài viết này với mục đích tư liệu tham khảo. Các trích dẫn hay đăng lại bản dịch này cần thiết phải ghi rõ nguồn và tác giả bản dịch là Như Huy


----

1-Ngải Vị Vị: Giới nghệ thuật Trung Hoa không hề hiện hữu


Việc gì phải đi tổ chức cả một triển lãm có cái tên là : Nghệ thuật của sự biến dịch: Các hướng đi mới của nghệ thuật Trung Hoa? Tôi nghĩ không có gì đáng để nói về các hướng đi mới khi bàn đến nghệ thuật Trung Hoa- nơi thậm chí còn không có các hướng đi cũ. Nghệ thuật Trung Hoa chưa hề có bất kì định hướng rõ ràng nào. Đúng là trong một triển lãm khai mạc tại Hayward Gallery ở London tuần trước có các nghệ sĩ mạnh mẽ hơn hẳn các nghệ sĩ khác trong nỗ lực chống lại các hạn chế do chính phủ áp đặt. Song điều này không hề thay đổi sự thật rằng triển lãm ấy cũng lại chỉ, thêm một lần nữa, là một nỗ lực nhằm chào hàng với công chúng phương Tây cái gọi là “nghệ thuật Trung Hoa đương đại”. Làm thế nào bạn có thể có một triển lãm về “nghệ thuật Trung Hoa đương đại” mà ở đó không có một chủ đề đương đại cấp thiết nào của đất nước được đề cập tới?

Tôi rất biết tác phẩm của hầu hết các nghệ sĩ trong triển lãm. Dĩ nhiên các tác phẩm này của Trung Hoa, song, nhìn chung, triển lãm hoàn toàn thiếu vắng cái nhìn phê phán. Trông nó giống với một hàng ăn tàu trong khu Hoa kiều, nơi bán các món ăn quen thuộc, như Gà Kung Pao, hay sườn heo chua ngọt. Mọi người sẽ ăn, và nói, ok, đây là đồ ăn Hoa. Tuy nhiên những thứ đó chỉ đơn giản là các món ăn dễ bán, và chỉ cho ta thấy rất ít về trải nghiệm thực sự của đời sống Trung Hoa ngày nay.

Sự áp đặt toàn bộ của nhà nước lên nghệ thuật và văn hoá đã cấm ngặt quyền tự do ngôn luận trong đất nước. Suốt hơn 60 năm qua, bất kì ai có quan điểm trái với đường lối đều bị đàn áp. Nghệ thuật Trung Hoa chỉ đơn thuần là một thương phẩm: nó từ khước bất kì sự dấn thân có ý nghĩa nào. Nó không hướng đến bất kì điều gì ngoài phạm vi này. Mục tiêu duy nhất của nó chỉ là làm mãn nhãn người xem bằng sự mập mờ của nó

tác phẩm "Ngủ" [sleeping] (2004/2012) của Ying Duan, tại triển lãm "Nghệ thuật của sự biến dịch: Các hướng đi mới từ Trung Hoa". Ảnh: Felix Clay

Giới nghệ thuật Trung Hoa không hiện hữu. Trong một xã hội hạn chế tự do cá nhân và vi phạm nhân quyền, bất kì điều gì tự gọi mình là sáng tạo hay độc lập đều chỉ là man trá. Với một xã hội toàn trị, việc sáng tạo điều gì đó bằng đam mê và trí tưởng tượng là bất khả.

Trung Hoa là một quốc gia với một lịch sử phong nhiêu. Sự bùng nổ kinh tế của nó đã khơi nên cơn thèm thuồng và sự tò mò từ khắp thế giới với nền nghệ thuật và văn hoá Trung Hoa, và điều này vẫn đang còn tiếp tục. Tuy nhiên, tôi có thể nói với mọi người rằng, đây chỉ là một màn kịch thiếu vắng diễn viên. Chính phủ Trung Hoa  tiêu hàng tỉ Đô la cho các dự án “quyền lực ngầm” (soft power initiatives) tìm mọi cách để cổ vũ và hỗ trợ sự trao đổi văn hoá với phương Tây, nhằm mục đích thể hiện đất nước như một quốc gia văn minh. Những động thái diễn trò này không khác gì với chính sách ngoại giao bóng bàn của chủ tịch Mao, từng được thực hiện hồi những năm 70s của thế kỉ trước: Các vận động viên bóng bàn Mỹ được mời sang Trung Hoa để chơi các trận giao hữu và qua đó tạo điều kiện cho một mối quan hệ chính trị. Theo cách này, Các chú gấu Panda khổng lồ cũng đã được gửi tặng cho rất nhiều quốc gia nhằm tăng cường mối quan hệ ngoại giao

Hình chi tiết từ tác phẩm của Peng Yu và Sun Yuan, " Tôi đã không chú ý là tôi đang làm gì" [I Didn't Notice What I am Doing] (2012) tại triển lãm "Nghệ thuật của sự biến dịch: Các hướng đi mới từ Trung Hoa". Ảnh: Felix Clay

Năm ngoái, chúng ta đã thấy Trung Hoa đưa quảng cáo đậm chất tuyên truyền của mình vào giữa quảng trường Thời đại ở New York. Trong một màn quảng cáo mà tờ quốc báo Xinhua miêu tả là một “chiến dịch ngoại giao công cộng”, các màn hình lớn chiếu các video tôn vinh ngôi sao phim hành động Jacki Chan, vận động viên bóng rổ  Yao Ming, phi hành gia Yang Liwei, và hai dương cầm thủ Lang Lang và Li Yundi. Đồng thời, viện Khổng tử, nơi cổ vũ và tuyên truyền về văn hoá Trung Hoa, cũng mở chi nhánh khắp thế giới, cùng lúc đó là các chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới của những Đoàn nhào lộn theo phong cách truyền thống Trung Hoa. Với tôi, những màn diễn kiểu này là một sự lăng mạ trí tuệ của con người và là một sự nhạo báng khái niệm văn hoá- tức coi nó như một công cụ tuyên truyền mà ở đó, kĩ năng được khoe khoang mà không kèm theo bản chất, tài nghệ được trưng bày mà thiếu vắng nội dung.

Mặc dù nghệ thuật Trung Hoa bị ảnh hưởng nặng nề từ văn hoá phương Tây, song cùng lúc, nó lại từ khước các giá trị nhân bản căn cốt là bệ đỡ cho nền văn hoá ấy.  Đảng cộng sản Trung Hoa tuyên bố về một chủ nghĩa xã hội mang đặc tính Trung Hoa, song không một ai, kể cả người Trung Hoa, hiểu đó là cái chi chi. Với tất cả những điều này, cộng thêm sự thiếu ý thức về bản sắc cá nhân của các nghệ sĩ, không có lý do gì để mong đợi một triển lãm nghệ thuật Trung Hoa tại phương Tây chỉ trích hệ thống một cách hiệu quả. Song bất kỳ triển lãm nào được giám tuyển mà thiếu đi sự tôn vinh nỗ lực tranh đấu của con người, thiếu đi sự quan tâm tới nhu cầu tự biểu lộ một cách trung chính của nghệ sĩ, thì triển lãm ấy sẽ không tránh khỏi việc đưa ra một kết luận sai lầm. Bất kì điều gì tự gọi bản thân là một sự trao đổi văn hoá đều sẽ chỉ là giả tạo nếu nó thiếu đi một nội dung phê phán. Những gì cần được thấy là các thảo luận thẳng thừng, tức một bệ đỡ cho các luận điểm khác nhau. Nghệ thuật cần phải hiến mình cho điều gì đó. 

2-Bỏ Ngải Vị Vị qua bên


Một phản ứng lại với  bình luận của Ngải Vị Vị về triển lãm "Nghệ thuật của sự biến dịch: các xu hướng mới từ Trung Hoa"

Triển lãm mới nhất của Gallery Hayward “Nghệ thuật của sự biến dịch: các xu hướng mới từ Trung Hoa" vừa đây đã đón nhận rất nhiều phản ứng từ quốc tế qua những bài viết hầu hết là tích cực, tức những gì trong mọi trường hợp đều phản ánh cả sự thoả mãn lẫn phấn khích. Trong khi một số người viết cho thấy sự không chắc chắn lắm về ý nghĩa chính xác của một số tác phẩm, hầu hết đều chia sẻ quan điểm rằng triển lãm đã trình bày được một tuệ kiến về mối quan hệ giữa nghệ thuật đương đại và xã hội ở Trung Hoa, cụ thể hơn, về sự dấn thân ở góc độ phê phán của nghệ thuật Trung Hoa đương đại nhắm vào chính quyền. Sự kết hợp này của các ấn tượng khác nhau có lẽ không phải là điều gì bất ngờ. Bất chấp sự phủ sóng truyền thông hầu như mỗi ngày, Trung Hoa vẫn là điều gì đó xa vời tại Anh. Hậu quả là, hầu hết những người viết ở Anh đã thiếu đi tri thức chi tiết cụ thể (tri thức về văn cảnh Trung Hoa-ND) cần phải có để có thể tiếp cận với nghệ thật đương đại Trung Hoa. Cùng lúc ấy, về mặt nghệ thuật, người xem lại bị thách thức trước một dạng nghệ thuật mà ý nghĩa của nó họ chỉ nắm bắt được phần nào, song chính dạng nghệ thuật ấy lại đang dấn thân một cánh tường minh vào một mối quan hệ phức tạp với những thay đổi hiện đang diễn ra tại Trung Hoa đương đại.

Tuy nhiên có một người viết đã không hề có ấn tượng gì về triển lãm này. Trong các bình luận của ông cho đăng trên tạp chí Guardian vào ngày mùng 9 tháng 9 năm 2012, nghệ sĩ và nhà đấu tranh Ngải Vị Vị đã mở cả một cuộc tấn công gay gắt nhắm vào những nhà tổ chức triển lãm“Nghệ thuật của sự biến dịch", buộc tội họ về việc đã trình bày sai về nghệ thuật đương đại ở Trung Hoa. Theo quan điểm của Ngải, triển lãm đã thất bại trong việc định vị “các chủ đề đương đại cấp bách nhất”, và cụ thể là thực tế rằng ở Trung Hoa hiện nay “không có chỗ cho sự tự do ngôn luận”. Nghệ thuật đương đại ở Trung Hoa, Ngải lý luận, chỉ là một “sản phẩm đơn thuần”,tức điều “từ chối bất kỳ một sự dấn thân có ý nghĩa nào” và mục đích duy nhất của nó khi được đem ra ngoài Trung Hoa, bởi vậy, chỉ để “làm mãn nhãn người xem bằng sự mập mờ của nó”.Không có vẻ gì là Ngải đã thực sự đến xem triển lãm hay đọc vựng tập của nó bởi hiện ông vẫn bị cấm cố trong ngôi nhà của mình tại Bắc Kinh.

Trong những năm gần đây, sự hiện diện của  Ngải Vị Vị đã trở nên quen thuộc nơi không gian truyền thông nước Anh. Những bài diễn thuyết huênh hoang tràng giang đại hải, những cú tấn công công khai và gay gắt nhắm vào chế độ quan liêu hành chính, những triển lãm và tác phẩm gây sốt trên mọi phương tiện truyền thông, một phóng sự dài kỳ của BBC do Alan Yentob thực hiện về việc Ngải bị cảnh sát hành hung và sau đó được đưa vào bệnh viện trong tình trạng thập tử nhất sinh, việc Ngải bị bắt và giam giữ mà không hề được đưa ra xét xử, sự truy tố Ngải về tội trốn thuế, sự lạc quyên của bè bạn và những người giấu tên nhằm giúp trả tiền thuế cho Ngải, và mới gần đây, một chân dung tự hoạ có tính điện ảnh của nghệ sĩ như một con người không thoả hiệp và không hối hận đã bảo vệ cho vị trí của Ngải, không chỉ như một người bình luận thích hợp nhất về chủ đề nghệ thuật đương đại ở Trung Hoa, mà còn như hiện thân huy hoàng cho nỗ lực chống lại chủ nghĩa toàn trị tại Trung Hoa. Không một phóng sự trên đài, trên truyền hình, hay trên mặt báo về nghệ thuật đương đại Trung Hoa nào sẽ được coi là đầy đủ nếu không có ít ra là một tham chiếu loáng thoáng về Ngải, trong vai trò nghệ sĩ Trung Hoa nổi tiếng nhất và, có lẽ quan trọng nhất hiện còn đang sống. Với truyền thông Anh, ông có vai trò như thể phiên bản, nhìn từ góc độ văn hoá nghệ thuật, của Aung San Suu Kyi; Ông như thể một ngọn hải đăng đối lập, tự đốt cháy mình, tuy giờ đây buộc phải im lặng phần nào do bị nhà cầm quyền cấm cố tại gia, vẫn cuồng nộ chống lại những bất công do chính quyền Trung Hoa áp đặt xuống ông và những người khác.

Bất chấp các cải cách kinh tế và xã hội theo hướng tự do hơn trong ba thập kỉ gần đây, Trung Hoa vẫn là một quốc gia có một nền chính trị luôn tàn bạo đến nghẹt thở. Những thách thức công khai nhắm vào quyền lực của đảng công sản cầm quyền cũng như bất kỳ điều gì có thể nhìn nhận là sẽ làm xói mòn tính toàn vẹn của nhà nước-quốc gia Trung Hoa, tức những thách thức và mối nguy từng hiện hữu suốt dọc thời kỳ Mao-ít, đều đơn giản là không được cho phép. Hậu quả cho những sự vi phạm  - sự quấy rối cá nhân và gia đình, sự giam cầm không có toà án xét xử, sự trục xuất, và thậm chí cái chết- là nhất quán trong việc hoàn toàn cụ thể và độc ác. Tuy nhiên với sự xuất hiện nhanh chóng và ngày càng rộng rãi của tính hiện đại hậu chủ nghĩa xã hội tại Trung Hoa từ thập kỷ 70s của thế kỷ trước, các hạn chế về tự do hành động và ngôn luận đã trở nên linh hoạt và mờ nhoà hơn. Kết quả là, sự tự giám sát tất cả những gì có thể bị nhìn thấy, sự tự ra kỷ luật, sự phô diễn ngoạn mục quyền lực quốc gia và sự giàu có vật chất đang tăng nhanh, tất cả những điều ấy giờ đây trở thành những chiến luỹ tổng hợp trước trật tự xã hội chính trị phổ biến khắp Trung Hoa. Quyền lực quốc gia trực tiếp chỉ được cho là cần thiết khi giáng xuống các sự phản kháng cực đoan hoặc có tính lặp đi lặp lại. Ngải tiếp tục nhắc nhở chúng ta về các thực tế đáng chê trách và xấu xa triệt để này không chỉ qua rất nhiều hành động khác nhau của ông khi công khai chống lại chính quyền, mà còn qua chính tình trạng thực tế của bản thân ông, khi bị cấm cố trong ngôi nhà của mình. Sự quấy nhiễu chính quyền không ngưng nghỉ và sự không khuất phục của ông trước các hăm doạ đã dẫn đến kết quả là phản ứng đầy nguy hiểm và đe doạ song vô hình từ phía chính quyền mà viễn cảnh đơn thuần của phản ứng ấy chắc chắn sẽ làm hầu như tất cả chúng ta khiếp sợ trong sự câm lặng tuyệt vọng mãi mãi. Với sự thách thức trực diện của mình nhắm vào quyền lực, Ngải đã và đang xứng đáng với sự chú ý và ngưỡng mộ của chúng ta.

Mặc dầu vậy, có những mối nguy hiểm nghiêm trọng trong việc tôn vinh Ngải như thể người đại diện/kẻ trung giới duy nhất cho sự kháng cự của giới nghệ thuật đối với chính quyền Trung Hoa.  Trong khi lập trường đối đầu thẳng thừng và thường xuyên có tính khoa trương của ông luôn dễ dàng được chia sẻ trong văn cảnh tự do dân chủ phương Tây, nơi vẫn còn hiện diện dai dẳng ý niệm lãng mạn về những người hùng bất đồng chính trị bất chấp hiểm nguy khi đối mặt với quyền lực độc tôn, chính nó lại hoàn toàn không hề đại diện cho lập trường phê phán của hầu hết các nghệ sĩ Trung Hoa khác.  Có lẽ Ngải đã tự định vị bản thân một cách đầy ngưỡng mộ theo mẫu các ý thể kiểu phương Tây và Khai Minh về sự tự do và cởi mở, song sự thẳng thừng nghiệt ngã và tính thô sơ đến mức diễn nôm trong cách ông phê phán chính quyền đã ngăn cản một cách hiệu quả kiểu thảo luận sâu sắc hơn về nghệ thuật đương đại trong phạm vi Trung Hoa cũng như về mạng lưới phức tạp nơi các luồng lực kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội có tính văn cảnh hoá, tức những gì đang bao quanh và chi phối sự sản tạo và tiếp nhận nghệ thuật đương đại tại Trung Hoa.

Dĩ nhiên là tại Trung Hoa có một số lượng lớn các nghệ sĩ đương đại đã và đang tìm cách kết hợp các ảnh hưởng văn hoá từ cả Trung Hoa lẫn phi-Trung Hoa với nhau theo lối đơn giản chỉ với mục tiêu tìm kiếm thành công về thương mại. Cùng lúc ấy, cũng có một số rất ít nghệ sĩ, giống như Ngải, sử dụng một lối tiếp cận có tính thù địch nhắm vào chính quyền. Tuy nhiên, cũng vẫn có vô số nghệ sĩ khác tìm cách phát triển các ngôn ngữ thị giác được cấu tạo một cách đầy trí tuệ, có khả năng duy trì những hình thức tư duy và phát biểu phê phán theo một lối tinh tế hơn nhiều. Theo truyền thống Khổng-Lão của Trung Hoa, có một cách hiểu quen thuộc rằng nghệ thuật sở hữu tiềm năng đi xa hơn bề mặt hình thức đơn thuần của tác phẩm để trình ra được các bình luận xã hội quan trọng cũng như các sự Khai Minh về tinh thần. Đi theo truyền thống này, các sự phê phán thông qua nghệ thuật nhắm vào chính quyền ở Trung Hoa luôn có xu hướng hàm ngụ và thi vị, cũng như luôn được khai triển thông qua các hình thức đậm tính biểu tượng của sự không can dự. Sự thiếu thốn các phê phán thẳng thừng nhắm vào chính quyền này không hoàn toàn là vấn đề của thuyết hành dụng. Nó còn được coi là dấu hiệu của văn minh. Với những nghệ sĩ Trung Hoa văn minh, những người muốn đứng cao hơn sự tàn ác của quyền lực, các hình thức phê phán hàm ngụ và thi vị không chỉ  giúp tránh khỏi những kiểu định nghĩa dễ dãi, mà còn đươc cho là sở hữu một xung lực của sự tự khởi, thanh thoát, phù hợp với những cách thế của chính Thiên nhiên. Một ẩn dụ về việc này đã được viết trong cuốn sách kinh điển Đạo Đức Kinh của Lão Tử, về việc "vật mềm thắng vật cứng [nước chảy đá mòn]"


Tác phẩm của Liang Shaoji

“Nghệ thuật của sự biến dịch” là một triển lãm quan trọng và có tính mở đường trong việc cho thấy một phạm vi phức tạp các phản ứng phê phán đối với những sự thay đổi về quyền lực và xã hội trong nước CHND Trung Hoa. Trong khi một số tác phẩm của triển lãm sử dụng các khía cạnh thuộc tư tưởng và thực hành văn hoá truyền thống Trung Hoa như một sự thoát ly có tính kháng cự khỏi nền chính trị và đời sống Trung Hoa dòng chính, một số khác lại trình bày các phản ứng được mã hoá đơn giản và dễ đọc nhắm vào những sự phi lý đến bi thương của một xã hội vẫn bị tình trạng quan liêu, tham nhũng và sự thiếu minh bạch đến mức nghiệt ngã chi phối. Ví dụ của cách tiếp cận đầu tiên bao gồm cách Liang Shaoji sử dụng những redymades như các giá đỡ để đặt lên đó những tấm lụa do chính những con tằm sống nhả tơ mà thành (1). Một trong số cách đọc tác phẩm này cho thấy nó phản ánh mạnh mẽ mối quan tâm của nghệ sĩ đối với tính tương đối kiểu Lão Trang và Einstein- là một sự tương phản rõ rệt đối với ý niệm về sự tiến bộ khoa học duy lý, tức những gì được đảng cộng sản Trung Hoa cổ vũ. Ví dụ của lối tiếp cận sau là các tác phẩm video và sắp đặt của Sun  Yuan và Peng Yu, Gu Dexin  và Wang Jianwei tức các tác phẩm trình ra những hàm ngụ thường xuyên phức tạp và có tính bóng gió sâu xa về các hiệu ứng tổng hợp và những mâu thuẫn tiềm tàng  khi Trung Hoa tiến vào tính hiện đại toàn cầu song cùng lúc vẫn sở hữu các tàn dư dai dẳng có tính văn cảnh hoá của quyền lưc chuyên chế

Tác phẩm của Liang Shaoji

Nhìn từ một quan giác hậu Khai Minh kiểu phương Tây, tất cả những điều này cho thấy một sự yếu đuối đến mức khó tin, một kiểu đồng loã (với chính quyền), hay có lẽ, một dang tự định hướng. Tuy nhiên, Trung Hoa không phải là phương Tây, và ở đó có lẽ không có nhiều  triển vọng cho một sự chuyển hướng trong tương lai gần để có thể xuất hiện được kiểu tính công khai hay tính phê phán mà giờ đây đã quá quen thuộc trong văn cảnh dân chủ tự do phương Tây. Ấy thế nhưng, với những ai có đủ sự kiên nhẫn để quan sát, chắc chắn họ sẽ thấy ra các hình thức văn cảnh hoá của sự kháng cự, tức những gì, trong khi dễ dàng bị những cặp mắt phương Tây bỏ qua, vẫn tiếp tục, bằng phương cách lắt léo, và có lẽ, theo thời gian, đã và đang tạo được hiệu quả lên giới cầm quyền Trung Hoa.

Ngải Vị Vị đã đúng khi nhắc chúng ta phải luôn chú ý tới tình trạng bất công đến mức bệnh hoạn do quyền lực toàn trị tạo ra ở nước Trung Hoa, ông cũng chính xác khi quở trách những công chúng phương Tây bởi việc họ không có khả năng nhìn thấy quá khứ, tức những gì, với họ chỉ mang dáng vẻ mập mờ và giúp họ thoả mãn kiểu hương xa về nghệ thuật đương đại Trung Hoa. Tuy nhiên, điều không thuyết phục ở đây chính là quan điểm có tính quy giản tuyệt đối của Ngải về các khả thể phê phán khác nhau của nghệ thuật đương đại Trung Hoa. Qua việc khăng khăng đòi hỏi địa vi duy nhất cho lối tiếp cận phê phán kiểu đối lập một cách khoa trương nhắm vào quyền lực, và bởi giờ đây chúng ta đã quá biết về lối tiếp cận này, ta thấy chính Ngải chứ không phải Hayward, mới là người không thích hợp với vai trò đại diện cho giới nghệ thuật đương đại Trung Hoa. Ai đó cũng có thể bình luận thêm vào rằng, Ngải đang lãng mạn hoá các điều kiện cho tính phê phán kiểu phương Tây. 

------

*Tác giả Paul Gladston là giáo sư trường đại học Nottingham ở nước Anh  


1-Tác phẩm của Liang Shaoji được Rachel Spence mô tả như sau: “…sắp đặt của ông được trưng bày trong một phòng tối, mà ở đó có đặt những rổ đựng những con sâu tằm được phủ bằng những lá dâu tằm. Hành vi của những con sâu tằm này, bò sột soạt, rỉa lá, và kéo kén trong quá trình hoá bướm  đã được thu lại trực tiếp và phát ra qua tai nghe. Trong một phòng khác, những tấm màng mỏng bằng tơ tằm thô bọc những chiếc kén vào cùng với các đồ vật từ những chiếc giá đỡ làm bằng dây đồng tới những dây xích treo từ trần và những cửa sổ có chấn song  vông bằng gỗ kiểu Trung Hoa. Tất cả âm thanh, hình dáng và sự đan kết của tác phẩm đều biểu lộ một tính phổ quát siêu vượt khỏi thời gian và không gian. Trong một khoảnh khắc, chúng ta dường như thuộc về chính thế giới của những con sâu tằm, mà ở đó, quá khứ, hiện tại, tương lai là không thể chia tách...

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013

Ca khúc "Dịu Dàng"




Dịu Dàng


Nhạc và lời: Như Huy
Người hát: Như Huy
Hoà âm: nhạc sĩ Đinh lăng
Piano: Trần Việt Anh
Violin: Ngọc Tú



Nơi anh ngồi đây phía sau căn phòng màu trắng
Cơn giông nào đem bóng đêm mây mù tràn qua
Anh nghe tình yêu thoảng trong những hơi gió lạnh
Và một ngôi sao lên trong mắt anh lóng lánh
Lóng lánh
Lóng lánh một ngôi sao ấy
Lóng lánh
Lóng lánh một ngôi sao ấy giữa mắt anh,
Giữa mắt anh em có thấy

Thoáng nụ cười em bình yên
Sáng nhẹ nhàng trong màn đêm
Nhắc lời tình yêu lặng im
Sáng dịu dàng như tình em

Thoáng nụ cười em bình yên
Sáng nhẹ nhàng trong màn đêm
Nhắc lời tình yêu lặng im
Sáng dịu dàng như tình em

Nơi anh ngồi đây bóng đêm đã tràn mọi lối
Nơi căn phòng xa sáng lên ánh đèn lẻ loi
Anh nghe ngọc lan thoảng trong gió khuya không lời
Và một ngôi sao lên trong mắt anh lóng lánh
Lóng lánh
Lóng lánh một ngôi sao ấy
Lóng lánh
Lóng lánh một ngôi sao ấy giữa mắt anh
Giữa mắt anh em có thấy

Thoáng nụ cười em bình yên
Sáng nhẹ nhàng trong màn đêm
Nhắc lời tình yêu lặng im
Sáng dịu dàng như tình em

Thoáng nụ cười em bình yên
Sáng nhẹ nhàng trong màn đêm
Nhắc lời tình yêu lặng im
Sáng dịu dàng như tình em



©Như Huy giữ bản quyền toàn bộ ca khúc và bản hoà âm

Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2013

Thơ Oscar Wilde (Như Huy dịch) | Ai Mà Chẳng Giết Đi Điều Họ Thương


Ai mà chẳng giết đi điều họ thương
Chúng ta phải
truyền đời chân lí ấy
Kẻ thì giết bằng cái nhìn đắng cay
Kẻ thì giết bằng những lời bóng bẩy
Kẻ lành giết bằng nụ hôn
Kẻ dữ giết bằng giáo gươm.

Có kẻ giết tình yêu thương khi đang còn trẻ
Có kẻ giết tình yêu thương khi đã già nua
Có kẻ lấy đôi tay nhục dục siết cổ nó
Có kẻ lấy đôi tay vàng ròng bóp cổ nó
Chính ra
kẻ tử tế nhất
lại là kẻ dụng dao
Vì theo cách này
Cái chết sẽ
đến nhanh
Ít-đớn-đau

Có kẻ giết 
bởi
chả-yêu-gì-mấy
Có kẻ giết
bởi
Cứ-yêu-lẵng-nhẵng-dằng-dai
Có kẻ giết vì bán
Có kẻ giết vì mua
Có kẻ vừa giết vừa khóc 
Có kẻ 
Khi ra tay
Không buông lấy
nửa-tiếng-thở-dài

Thế đấy,

Ai mà chẳng giết đi điều họ thương
Và rồi,
Vẫn-Cứ-Sống-Nhơn-Nhơn


© Như Huy  


Thư của Sol Lewitt, một trong những cha đẻ của chủ nghĩa tối giản, gửi cho Eva Hesse, nữ nghệ sĩ hậu tối giản


Như Huy dịch

Sol Lewitt


Eva thân mến

Có lẽ đã đến cả tháng trời rồi kể từ khi cô viết cho tôi, và bây giờ có khi cô đã quên tâm trạng mình lúc ấy (tôi đoán vậy). Cô có vẻ không hề thay đổi, và luôn như thế- căm ghét bản thân mình. Đừng. Hãy học cách thỉnh thoảng chửi đụ-mẹ thẳng vào thế giới. Cô có toàn quyền làm điều đó. Hãy ngưng nghĩ ngợi lòng vòng, lo lắng quẩn quanh, nhìn trước ngó sau, so đo, suy đoán, sợ hãi, tổn thương, hy vọng có lối thoát dễ dàng, vật vã, ôm đồm, lúng túng, ngứa ngáy, gãi ghẻ, lẩm bẩm, lúng búng, gầm gừ, may nhờ rủi chịu, lộn xộn, hóc xương gà, dẫm cứt, chẻ sởi tóc làm tư, bới lông tìm vết, vừa đái vừa run, chõ mũi vào việc không phải của mình, móc đít, tự chọc mù mắt, chỉ tay năm ngón, chui rúc xó xỉnh, chờ đợi đến chảy nhão ra, rón ra rón rén, mắt long sòng sọc lên, giở thói ông rút chân giò bà thò chai rượu, tìm kiếm, đi trên mây, bôi bẩn mọi thứ, mài mòn, mài mòn, và mài mòn năng lực bản thân. Hãy ngưng hết lại. Chỉ làm thôi. Từ những gì cô mô tả, và từ những gì tôi biết về các tác phẩm trước đây của cô, và về tài năng (sic) của cô; tác phẩm cô đang làm có vẻ rất hay đấy- “Vẽ sạch và rõ, nhưng điên rồ như những cỗ máy, to lớn, hơn, và dữ tợn hơn…thực sự vô nghĩa”. Có vẻ hay đó, tuyệt vời đó- cái sự thực sự vô nghĩa ấy. Làm nữa đi. Vô nghĩa thêm nữa đi, điên nữa đi, máy móc nữa đi, vú vê, lồn cặc nữa đi, bất cứ điều gì- hãy làm chúng trông càng vô nghĩa càng tốt. Hãy cố gắng, và hãy khêu gợi điểu gì đó từ bên trong cô, sự “hài hước kì dị” của cô. Cô thuộc về phần bí mật nhất trong cô. Đừng nghĩ nhiều về việc phải oách, hãy tạo ra cái hai-lúa của chính mình. Hãy để mình là mình, là thế giới của mình. Nếu sợ hãi thì hãy bắt sự sợ hãi đó phải hầu cô- hãy vẽ kí hoạ hay vẽ sơn nỗi sợ hãi và âu lo đó. Hãy ngưng nghĩ về các thứ lớn lao to tát sâu xa như là “ quyết định một mục đích và một lối sống, một tiếp cận (sic) kiên quyết tới thậm chí vài mục đích bất khả hay thậm chí một mục đích tưởng tượng”. Cô phải thực hành việc là một kẻ ngốc, ngu dốt, rỗng tuếch. Và lúc đó, cô sẽ có thể LÀM!

Tôi có sự tin tưởng lớn vào cô và mặc dù cô đang tự dằn vặt, tác phẩm của cô vẫn rất hay. Hãy cố làm ra tác phẩm DỞ- dở nhất theo như cô tưởng tượng, nhưng hãy cứ kệ mẹ nó đấy, và thoải mái thư giãn thôi- cô chả có trách nhiệm đéo gì với thế giới- mà chỉ có trách nhiệm với công việc của mình mà thôi- và nếu vậy, hãy LÀM đi. Đừng nghĩ là tác phẩm của cô phải giống với bất kì ý tưởng hay khẩu vị nào cô tưởng tượng ra trước khi làm nó. Nó có thể là bất cứ điều gì cô muốn. Song nếu cô thấy khi không làm nghệ thuật thì lại sướng hơn, vậy thì ngưng làm luôn. Và đừng trừng phạt bản thân vì điều đó. Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ nghệ thuật đã ăn sâu vào trong cô đến mức mà cô sẽ cảm thấy nếu không làm thì không có gì sung sướng cả.

Eva Hesse

Dù sao đi nữa, có vẻ là tôi hiểu được điều gì đó trong thái độ của cô bởi chính tôi cũng đã từng thường xuyên trải qua giai đoạn kiểu này. Tôi có một “sự tự phê đớn đau” về tác phẩm của mình và sau đó tìm cách thay đổi mọi điều có thể thay đổi. Điều này không khác gì việc căm ghét tất cả những gì mình đã làm, và tìm cách làm ra điều gì đó  triệt để khác, và hay ho hơn. Có lẽ kiểu quá trình này là cần thiết với tôi ở chỗ nó cứ thúc tôi phải chạy, và chạy, không cho dừng lại. Có lẽ đó là cảm giác rằng mình có thể làm ra điều gì đó tốt hơn đống cứt mà mình đã trót làm ra. Có lẽ cần tới sự thống khổ để có thể hoàn tất những gì ta  làm chăng?. Và có lẽ cảm giác này sẽ kích thích cô làm việc hay ho hơn. Nhưng đúng là sẽ rất đau đớn đấy, tôi biết quá rõ điều này. Tốt hơn hết là nếu cô có sự tự tin thì  cứ làm, làm, và làm mà không nghĩ ngợi cho lắm làm gì.  Cô không thể cứ mặc mẹ “ thế giới” và “NGHỆ THUẬT” cũng như ngưng vuốt ve xoa dịu cái tôi của mình sao? Tôi biết cô ( hay bất kỳ ai) chỉ có thể làm việc rất nhiều và toàn bộ thời gian không làm việc thì lại bận rộn với các suy nghĩ lòng vòng. Thế nhưng, khi làm việc, hay trước khi làm việc cô phải làm rỗng tâm trí và tập trung vào công việc. Sau khi cô xong, thì tác phẩm thế nào sẽ là thế ấy. Một lúc sau nữa, cô có thể thấy tác phẩm này hay hơn tác phẩm kia, nhưng điều quan trọng là cô cũng thấy được hướng đi tiếp. Tôi chắc cô biết tất cả những điều này. Cô cũng cần phải biết là cô không việc gì phải phán xét tác phẩm của mình cả-ngay cả bản thân cô nữa, cô cũng đừng phán xét nó. Nói thế nào nhỉ? Tôi thực sự ngưỡng mộ các tác phẩm của cô và không tài nào hiểu vì sao mà cô lại cứ lấn cấn về chúng? Nhưng cô mới là người có thể thấy ra các tác phẩm sắp tới của mình, còn tôi thì không thể. Cô phải tin vào chính tài năng của mình. Tôi nghĩ cô tin đấy. Nếu vậy, hãy cố gắng làm những việc khủng điên nhất mà cô có thể- hãy tự làm mình sốc đi. Bản thân cô sở hữu sức mạnh để có thể làm bất cứ điều gì.

Tôi muốn xem tác phẩm của cô và sẽ phải chấp nhận chờ đến tháng Tám hay tháng Chín. Tôi đã xem ảnh một số tác phẩm mới của Tom (Doyle- chồng của Eva Hesse, một điêu khắc gia- - chú thích của người dịch) tại nhà Lucy (Lippard- phê bình gia nghệ thuật Mỹ- chú thích của người dịch). Chúng rất ấn tượng- đặc biệt các tác phẩm với hình thức đậm chất tinh xác: các tác phẩm đơn giản. Tôi nghĩ sắp tới anh ấy sẽ gửi nhiều ảnh nữa. Cho tôi biết các cuộc triển lãm và tác phẩm trông ra sao nhé.

Tác phẩm của tôi đã thay đổi sau lần gặp cô và nó tốt hơn nhiều. Tôi sẽ có một triển lãm từ 4-9 tháng Năm tại Daniels Gallery 17E 64yh St (từng là chỗ của Emmerich (Andre, gốc Đức, chủ gallery nổi tiếng thập niên 50s-60s tại New York- chú thích của người dịch ). Tôi mong gặp cô ở đó. Yêu hai vợ chồng cô


Sol


@Như Huy 2013


Để biết thêm về Sol Lewitt, xem tại đây:


Để biết thêm về Eva Hesse, xem tại đây:



(Như Huy dịch nhân dịp Giáng Sinh) | Một số câu nói của mẹ Teresa về Tình yêu thương*




1-Nếu cứ mải xét nét người, thời gian đâu ra mà yêu thương họ?

2- Tôi thấy ra một nghịch lí kì khôi.  Đó là, nếu cứ yêu thương cho đến mức chịu bẽ bàng và thương tổn, thì ngay khi ấy, mọi tổn thương bẽ bàng sẽ tự-dưng-chấm-dứt,  chỉ còn lại duy nhất tình yêu

3- Ai mà chẳng vô lý và vị ngã. Kệ họ nhé
Khi mình tốt thì  bị  cho là có mưu đồ xấu. Vẫn cứ tốt nhé
Khi mình trung thực và thẳng thắn thì hay bị lừa. Vẫn cứ trung thực và thẳng thắn nhé
Khi mình bình yên và hạnh phúc. Họ sẽ ghen tị. Vẫn cứ hạnh phúc nhé
Khi mình thành công, sẽ xuất hiện những người bạn xạo và những kẻ thù thực sự. Vẫn cứ thành công nhé
Điều tốt mình làm cho người hôm nay, ngay ngày mai, họ sẽ quên tiệt. Vẫn cứ làm điều tốt nhé
Thấy không? Nếu nghĩ cho tới, ta sẽ thấy rằng, vấn đề ở đây là giữa ta và Chúa. Nào phải giữa ta và họ

4- Vấn đề không phải là việc ta đã cho đi bao nhiêu, mà là việc ta đã trút bao nhiêu yêu thương vào sự-cho-đi ấy?

5- Không phải bất kì ai cũng có thể tạo nên các kì tích vĩ đại. Nhưng ai cũng có thể trút tình yêu thương lớn lao vào những điều nhỏ bé.

6- Tình yêu thương thực sự không so đo tính đếm. Nó chỉ biết nhẫn-nại-cho-đi

7- Ki-Tô nói yêu thương lẫn nhau. Ngài không bảo phải yêu lấy toàn thế giới.

8- Những gì ta xây dựng hàng năm ròng có thể sụp đổ chỉ trong một đêm. Nhưng vẫn cứ xây nhé.

9- Một trong những tật bệnh ghê sợ nhất, đó là không-có-ý-nghĩa-với-bất-kì-ai

10- Đừng nghĩ rằng tình yêu thương thực sự phải là điều gì đó vô tiền kháng hậu. Những gì chúng ta cần chỉ là:

nhẫn-nại-yêu và đừng-mỏi-mệt.


D(ngh)ịch thơ Szymborska | Ba Chữ Lạ Lùng (The Three Oddest Words)


Chữ mai-sau mới lìa môi
Thanh âm đã chớm khuất vào ngày-xưa

Chữ im-lặng mới vẳng ra
Lặng im mới đó vỡ oà còn đâu

Chữ hư-vô, lúc đặt câu
Tôi bày cả cõi-u-sầu-mênh-mang


©Như Huy 2012

 Nguồn: http://poemsetc.blogspot.com/2010/10/three-oddest-words.html

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

Thế mà là nghệ thuật ư? hay quảng cáo sách không công cho NXB Tri Thức ^^

Lời nói đầu bản dịch "Thế mà là nghệ thuật ư?"



Mới gần đây, khi giới thiệu với một số bạn trẻ một số tác phẩm của hai nghệ sỹ Christo và Jeanne-Claude(1), vào lúc chấm dứt buổi giới thiệu, một số người gặp tôi và hỏi, “thế rốt cục, cái đẹp của những tác phẩm đó ở đâu?”. Cũng một lần khác, nói chuyện với một số bạn trẻ khác, là sinh viên của một số trường đại học, khi tôi đề cập tới tác phẩm Fountain (Vòi nước) (2), của Marcel Duchamp, một sinh viên đã nói với tôi rằng, “nếu nghệ thuật mà dễ như vậy thì ai mà chả làm được nghệ thuật”, và “cái tác phẩm này chả khác gì những thứ mà em thấy xuất hiện đầy ngoài các tiệm bán vật liệu xây dựng”. Những dạng câu hỏi và ý kiến nêu trên, và thậm chí còn nhiều dị bản tương tự nữa hướng về các nghệ phẩm hiện đại, hậu hiện đại, và đương đại khác nữa, đã phản ánh rất rõ việc, có một khoảng trống trong giáo dục mỹ học, hay nói cách khác, giáo dục về triết học nghệ thuật ở Việt Nam. Vậy, chính xác, những gì được gọi là triết học nghệ thuật? à tại làm sao mà sự thiếu thốn của nó lại gây ra những câu hỏi như vừa được dẫn ở trên?


Tác phẩm "Bọc nhà quốc hội " của Christo và Jean Claude



Tác phẩm"Vòi nước" của Duchamp


Trong cuốn sách, Triết học nghệ thuật, một dẫn luận đương đại (3), tác giả Noël Carroll, chủ tịch hiệp hội Mỹ Học Hoa Kỳ, đã viết: “Thật sự ra, cuốn sách này (của ông) cũng có thể được đặt tên là Triết học phân tích về nghệ thuật: Một dẫn luận đương đại ( Analytic Philosophy of Art: A Contemporary Introduction)(4). Có thể hiểu rằng, qua cái nhan đề giả định trên – Noël Carroll đã coi triết học về nghệ thuật thuộc mô hình triết học phân tích. Tiếp theo, ông lại đặt câu hỏi, vậy nếu đó là triết học phân tích thì:” Chính xác là dạng triết học này sẽ phân tích điều gì ?“(5). Đối tượng phân tích của dạng triết học này cũng được Noël Carroll trả lời ngay sau đó, là “ những khái niệm” (concepts).(6) Những khái niệm chi phối toàn bộ đời sống của con người, nó tổ chức các thực hành của họ, bao gồm khái niệm chính trị, khái niệm luân lý, khái niệm luật pháp, v.v., và lẽ dĩ nhiên, khái niệm nghệ thuật – tổ chức các thực hành thưởng lãm và sáng tạo nghệ thuật. Và như vậy, ở đây, chúng ta hiểu triết học phân tích về nghệ thuật chính là triết học phân tích về các-khái-niệm-nghệ-thuật

Thật vậy, lịch sử nghệ thuật, nói một cách nào đó, chính 1à một lịch sử của những khái niệm nghệ thuật. Mỗi thời đại, nơi chốn, cộng đồng, hoàn cảnh cụ thể nào đó, sở hữu những khái niệm nghệ thuật khác nhau. Và chính những khái niệm nghệ thuật khác nhau đó, sẽ tổ chức các thực hành nghệ thuật khác nhau của mỗi thời đại, nơi chốn, cộng đồng và hoàn cảnh khác nhau. Lấy ví dụ, Một trong những khái niệm nghệ thuật xưa nhất từng dược biết tới của nghệ thuật phương Tây, đó là khái niệm, “nghệ thuật là sự mô phỏng” (Art as Imitation), do Plato, và học trò của ông là Aristotle đưa ra. Lẽ dĩ nhiên, với người Hy Lạp cổ đại, khái niệm nghệ thuật mà họ hiểu và bàn tới, khác với khái niệm nghệ thuật như chúng ta hiểu ngày nay – nó có một trường rộng hơn – là bất kỳ thực hành nào đòi hỏi kỹ năng, và bởi thế, nó còn bao gồm cả nghề làm thuốc và quân sự. Vì lẽ đó, không phải đối với Plato và Aristotle, mọi loại hình nghệ thuật theo cảm năng đòi hỏi một kỹ năng đều là sự mô phỏng, mà với hai triết gia này, khi nói nghệ thuật là sự mô phỏng, họ chỉ nói tới thi ca, bi kịch, hội họa, điêu khắc, vũ đạo và âm nhạc, mà thôi. Khái niệm mô phỏng, theo Plato, khi nói về bi kịch (cũng như hội họa), có một ý nghĩa xấu. Theo ông, bản chất của bi kịch là sự mô phỏng – là vẻ bề ngoài đội lốt. Các diễn viên trong bi kịch mô phỏng nhân vật mà họ sắm vai. Với Plato, điều này là có vấn đề bởi ông tin rằng sự quyến rũ và khích gợi cảm xúc thông qua vẻ bề ngoài sẽ tạo ra nguy hiểm về mặt xã hội. Một cộng đồng công dân (citizenry) duy cảm là một cộng đồng công dân nông nổi (unstable), dễ bị ảnh hưởng bởi những phương pháp mị dân hơn là bởi cảm năng về cái thiện hảo. Theo Plato: “ Mọi nhà mô phỏng thi ca, bắt đầu từ Homer, chỉ mô phỏng các hình ảnh của đạo đức cũng như của các sự vật khác khi họ viết, và không có mảy may chân lý nào ở trong những mô phỏng ấy hết”(7)( sách Cộng Hòa 10| Republic 10) Và thậm chí trong loạt sách “ Cộng Hòa” của mình- hình dung về một quốc gia lý tưởng, Plato còn thẳng tay đưa các nhà bi kịch (cũng là các nhà thơ) ra ngoài vòng pháp luật. Cũng coi nghệ thuật là sự mô phỏng, song Aristotle, học trò của Plato, lại cho rằng, dẫu các bi kịch khơi gợi cảm xúc và nỗi sợ hãi của người xem, song chúng làm thế cho mục đích carthasis ( thanh tẩy), và bởi vậy, có lợi cho người xem. Hơn nữa, Aristotle còn cho rằng, con người có thể học được từ sự mô phỏng và việc thụ đắc hiểu biết từ sự mô phỏng là nguồn mạch thỏa mãn chủ yếu công chúng có được khi tới nhà hát. Trong cuốn Thi Pháp ( Poetics) nổi tiếng của mình, ông viết, ” Sự mô phỏng ( mimesis) vốn sẵn có ở con người từ thưở nhỏ, và con người khác giống vật ở chỗ họ có tài mô phỏng, nhờ có sự mô phỏng mà họ thu nhận được những kiến thức đầu tiên”(8), và trong cuốn Siêu Hình Học ( Metaphysics) của mình, ông cũng cho rằng, “con người luôn yêu mến sự học hỏi”(9). Như vậy, ở đây chúng ta thấy, dù có khác nhau trong cách đánh giá sự mô phỏng, song khái niệm về nghệ thuật của cả Plato và Aristotle đều tương tự. Có nghĩa là, với họ, nghệ thuật chính là sự mô phỏng. Hay nói cách khác, mô phỏng là điều kiện cần và đủ cho những dạng kiểu thực hành nào đó được gọi là nghệ thuật. Mô phỏng là cái đặc trưng chung, mà một con người, một địa điểm, một vật thể, một hành vi, hay một biến cố – nếu muốn được coi là nghệ thuật thì phải trưng ra. Ở đây, mệnh đề của Plato và Aristotle sẽ là:

“X là một nghệ phẩm khi và chỉ khi nó là sự mô phỏng”


Triết gia Plato

Như ta thấy, chính cái khái niệm về nghệ thuật là sự mô phỏng trên, đã tổ chức toàn bộ các thực hành thưởng lãm và sáng tạo nghệ thuật trong thời đại của Plato và Aristotle. Có nghĩa là, vào thời đó, những thực hành như vẽ tranh, làm tượng, viết bi kịch, các thi thoại và vũ điệu trong bi kịch- chỉ khi mang theo tính chất mô phỏng mới được gọi là nghệ thuật và mới xứng đáng để quan tâm, tư duy, sưu tầm, và thưởng thức. Tất cả những thực hành không chứa đựng sự mô phỏng, không được coi là nghệ thuật và sẽ bị đối xử một cách thờ ơ, không đáng quan tâm.

Khái niệm về nghệ thuật là sự mô phỏng này có ảnh hưởng lớn đến cách quan niệm nghệ thuật ở phương Tây, thậm chí kéo dài cho tới đầu thế kỷ 19, mãi cho tới khi có sự ra đời của nhiếp ảnh. Tuy nhiên khái niệm này đã thực sự trở nên bế tắc khi bắt đầu có sự xuất hiện của hội họa trừu tượng (Abstract Paintings), với các nghệ sỹ khởi đầu như Vassily Kandinsky(1866-1944), Paul Klee(1879-1940), Piet Mondrian(1872-1944) hay Kasimir Malevich(1878-1935).

Thật vậy, bằng việc rời bỏ hoàn toàn thế giới hiện tượng khách quan để chỉ quan tâm tới các mô dạng lý tưởng (10), tác phẩm của các nghệ sỹ nói trên đã triệt tiêu đi toàn bộ tính chất mô phỏng của nghệ thuật theo quan điểm của Plato-Aristotle, để thay vào đó trình ra những đường nét và mầu sắc thuần túy. Thậm chí với Piet Mondrian, trong một phát ngôn của mình, còn cho rằng các tác phẩm của ông” tìm cách vượt xa hơn hệ thống giá trị của con người để đạt tới sự vô tận và vĩnh cửu” (11). Ngay tại đây, ta thấy khái niệm nghệ thuật là sự mô phỏng với mệnh đề, “X là một nghệ phẩm khi và chỉ khi nó là sự mô phỏng” đã gặp bế tắc, bởi nó sẽ không thế quan niệm nổi tác phẩm của những nghệ sỹ kể trên là nghệ thuật, và vì thế, sẽ đối xử một cách thờ ơ, và không chiếu vào đó bất kỳ một mối quan tâm nào.


Triết gia Immanuel Kant

Rõ ràng là tác phẩm của các họa sỹ trừu tượng là những thực hành tuân theo những cách thức tổ chức khác, và một khái-niệm-nghệ-thuật-khác. Khái niệm nghệ thuật này có lẽ phải truy ngược lại cho tới thời Khai Minh, với một triết gia quan trọng của nó là Immanuel Kant ( 1724-1804). Theo Kant, một điều đẹp đẽ luôn sở hữu cái gọi là “ tính hợp mục đích không có mục đích” (purposiveness without a purpose) (12), hay nói cụ thể hơn, theo Kant: “ Vẻ đẹp ( Shoenheit) là hình thức của tính hợp mục đích của một đối tượng, trong chừng mực tính hợp mục đích ấy được tri giác mà không có hình dung nào về một mục đích (khách quan) nơi đối tượng”(13). Có nghĩa là với Kant, bất kể một vật thể nào, dù có sở hữu sự mô phỏng hay không, nếu như nó mang đem những đặc trưng nào đó, về đường nét, mầu sắc, lối kiểu đan dệt, bố cục, gây ra được cho người thưởng ngoạn một xúc động về mặt mỹ cảm – thúc đẩy một trò chơi tương tác tự do giữa các quan năng nhận thức (14), là trí năng, giác năng, và tưởng năng của họ – vật thể ấy đã sở hữu một tính chất quan trọng nhất – đó là Cái Đẹp (Beauty). Bản thân Kant không cho rằng, nghệ thuật là phải đẹp, tuy nhiên, ý tưởng về Cái Đẹp của ông đã có nhiều ảnh hưởng tới các triết gia về nghệ thuật sau này, đặc biệt là các nhà hình thức luận (Formalists), với một khái niệm nghệ thuật là hình thức (Art as Form) , hay nói một cách cụ thể hơn, ý tưởng về cái Đẹp của Kant đã có ảnh hưởng lớn tới lý thuyết gia hình thức Civil Bell (1881-1964), với khái niệm về “Nghệ Thuật là Mô Dạng Tạo Nghĩa” (Art as Significant Form), một khái niệm sẽ giúp quan niệm được các thực hành trừu tượng là nghệ thuật. Theo Bell,

“ Những gì là chất lượng chung cho kiến trúc nhà thờ thánh Sophia và các cửa sổ kính ghép mầu tại nhà thờ Chartres, điêu khắc Mexico, bát thuộc nền nghệ thuật Persian, các tấm thảm Trung Hoa, tranh tường của Giotto ở Padua, và các nghệ phẩm bậc thầy của Poussin, Piero della Francesca, và Cézanne?, chỉ có một câu trả lời khả dĩ ở đây, đó là –Mô Dạng Tạo Nghĩa. Trong mỗi tác phẩm ấy , đường nét, mầu sắc được liên gộp theo một cách nào đó, cùng với các thể dạng và mối liên hệ của các thể dạng, gợi nên được các xúc động mỹ cảm cho chúng ta. Những mối liên hệ và sự liên gộp này của đường nét, mầu sắc, cùng những thể dạng chuyển vận một cách mỹ cảm này, tôi gọi là” Mô Dạng Tạo Nghĩa”; và “Mô Dạng Tạo Nghĩa”là một chất lượng chung cho mọi nghệ phẩm thuộc nghệ thuật thị giác(15).


Tác phẩm của Piet Mondrian


Tác phẩm của Kazimir Malevich

Và ở đây, mệnh đề của Bell về nghệ phẩm, thay vì, X là một nghệ phẩm khi và chỉ khi nó là sự mô phỏng, đã trở nên là X là một nghệ phẩm khi và chỉ khi nó thể hiện ra Mô Dạng Tạo Nghĩa. Các nghệ phẩm trừu tượng hoàn toàn thỏa mãn đòi hỏi ấy từ khái niệm Nghệ Thuật Như Mô Dạng Tạo Nghĩa của Clive Bell

Trở lên trên, là hai ví dụ tôi nêu ra để cho thấy một sự thật là, mỗi khái niệm nghệ thuật khác nhau, sẽ đem lại những câu trả lời khác nhau cho những sự vật hiện tượng khác nhau. Quay trở lại những câu hỏi và ý kiến đặt ra với tôi ở đầu bài viết về tác phẩm của Christo và Jeanne-Claude hay của Duchamp, qua hai thí dụ vừa dẫn, có lẽ chúng ta đã đều nhận thấy – các câu hỏi và ý kiến đó đã đến từ một khái niệm nghệ thuật khác với khái niệm nghệ thuật tạo ra tác phẩm của Christo và Jeanne- Claude và của Duchamp. Nói một cách cụ thể hơn, cả câu hỏi đầu:” thế rốt cục, cái đẹp của những tác phẩm đó ở đâu?”đặt ra cho các dự án của Christo và Jeanne-Claude, lẫn ý kiến sau “nếu nghệ thuật mà dễ như vậy thì ai mà chả làm được nghệ thuật”, và” cái tác phẩm này chả khác gì những thứ mà em thấy xuất hiện đầy ngoài các tiệm bán vật liệu xây dựng”, đặt ra cho chiếc bồn tiểu của Duchamp – là một vật thể làm sẵn hàng loạt ( mà Duchamp gọi là ready made) và chả mô phỏng cái gì hết vì bản thân nó chính là một cái bồn tiểu trong-đời-thực -có lẽ đều bắt nguồn cả từ khái niệm về Cái Đẹp của Kant – chi phối cả các lý thuyết hình thức về nghệ thuật sau này, lẫn (trong nhiều nguồn khác nữa) quan niệm của người Hy Lạp cổ đại về nghệ thuật, khi coi nó phải là sự mô phỏng và đòi hỏi kỹ năng tạo chế.

Rõ ràng là, để trả lời (hoặc tự trả lời) những câu hỏi và ý kiến dạng này, cần tới một sự giáo dục về thẩm mỹ (về triết học nghệ thuật) ở các tầm mức và tầm cấp khác nhau trong xã hội. Trong đó, ngoài các mô hình giáo dục theo kiểu định chế- thông qua nhà trường (chuyên nghiệp và không chuyên), các bảo tàng, các hệ thống gallery, những địa điểm mà nhìn một cách thẳng thắn, ở Việt Nam hiện tại, là chưa hiệu quả-còn là các mô hình giáo dục mang tính xã hội hóa, như in ấn, dịch thuật và giới thiệu các sách về triết học nghệ thuật, cũng theo các tầm mức và tầm cấp khác nhau trong xã hội.

Cuốn sách “ thế mà là nghệ thuật ư?” (but is it art?) của Cynthia Freeland (và ấn bản tiếng Việt của nó, được in ấn và phát hành bởi nhà xuất bản Tri Thức), nhìn một cách nào đó, chính là một trong những thực hành thuộc mô hình giáo dục xã hội hóa nghệ thuật nói trên. Trong suốt gần 300 trang sách, ngắn gọn và cô đọng, được viết với một văn phong trong sáng và thông tuệ, cả một lịch sử dài các khái niệm về nghệ thuật, không chỉ của riêng phương Tây, mà còn từ phương Đông, đã được điểm qua và phân tích. Qua cuốn sách, người đọc chúng ta sẽ có một cái nhìn rõ ràng và có lẽ sẽ phần nào được cắt nghĩa rằng, khái niệm về nghệ phẩm và nghệ thuật, theo thời gian, đã phát triển để không chỉ còn là một khái niệm thuộc về cái đẹp, khơi gợi mỹ cảm, mà còn là một công cụ nhận thức, qua đó, phản chiếu các biến cố, các thông điệp xã hội, chính trị của nghệ sỹ. Người đọc chúng ta cũng sẽ được tiếp cận với hầu hết các lý thuyết mới nhất về nghệ thuật hiện đang chi phối mặt bằng phê bình nghệ thuật phương tây, như lý thuyết nghệ thuật vị định chế (Institutional theory of art), lý thuyết nghệ thuật vị triết ( Philosophical theory of Art), để rồi qua đó, có thể nắm bắt phần nào được phương cách mà nghệ thuật đương đại thế giới hiện nay đang được quan niệm, diễn giải và khởi hoạt. Một điểm đặc biệt của cuốn sách này là, khi đề cập tới sự phát triển của các khái niệm nghệ thuật, nó không chỉ coi các khái niệm ấy như những hệ thống lý thuyết đóng- mà còn liên đới chúng tới các hệ thống ngoại vi về mặt xã hội và chính trị, song có quan hệ chặt chẽ với chúng, trong đó có hệ thống các định chế nghệ thuật-như bảo tàng và các bộ sưu tập nghệ thuật cá nhân, hoặc hệ thống các khái niệm và biến cố về chính trị, khoa học, xã hội- như sự phát triển của ngành khoa học nhận thức, của Nữ Quyền Luận, của quan điểm Hậu Thực Dân, v.v.. Nói cách khác, bằng một tiếp cận mang tính nhân học, cuốn sách này đã liên đới nghệ thuật với tất cả những yếu tố ngoại vi mà nó cho là có tác động tương tác tới những cuộc chuyển hóa của chính khái niệm nghệ thuật.

Tuy vậy, từ góc độ của một nghệ sỹ thực hành và một người đọc/viết về nghệ thuật ở Việt Nam, theo tôi, cũng phải nhìn nhận khách quan rằng, cuốn sách này, với tất cả sự minh triết, sâu sắc, và gọn gàng của một nỗ lực đại chúng hóa triết học về nghệ thuật, vẫn có một số điểm chưa được quán triệt trọn vẹn. Ví dụ như chương sách về chủ nghĩa Hậu Thực Dân chẳng hạn. Trong chương sách này, dường như Cynthia Freeland đã chỉ tường giải chủ nghĩa Hậu Thực Dân từ góc nhìn thuộc vị trí trung tâm (center), do đó, đã chưa đề cập sâu vào những tình huống và nỗ lực phản biện văn hóa của các nghệ sỹ và nghệ phẩm thuộc khu vực ngoại biên (periphery), nơi, nhìn một cách nào đó, đang bị chi phối bởi những công cụ định nghĩa khổng lồ như các định chế nghệ thuật, các khái niệm nghệ thuật từ phương Tây- dẫn tới tình huống mà các nghệ sỹ ấy đang tìm cách phản biện,-tình huống-mà tôi gọi là- sự ly-tán-tâm lý-ngay-trên-quê-hương(16). Nói một cách chính xác hơn, trong tiếp cận với lý thuyết Hậu Thực Dân của mình, Cynthia Freeland, bởi cái góc nhìn thuộc vị trí trung tâm của bà – đã chỉ quán chiếu sâu vào những nỗ lực, thông qua nghệ thuật, duy trì căn tính văn hóa của những cộng đồng ly-tán-vật-lý-khỏi-quê-hương mà thôi.

Nhìn một cách nào đó, những sự chưa được quán triệt này là có thể hiểu được, nếu xét trên mục đích đại chúng hóa lý thuyết nghệ thuật cho công chúng phương Tây, và xét ở độ dài có giới hạn của cuốn sách. Và cũng từ góc độ của một nghệ sỹ thực hành và một người đọc/viết về nghệ thuật ở Việt Nam, theo tôi, thậm chí bất chấp cả những sự chưa quán triệt nào đó của nó, cuốn sách này vẫn là một cứ liệu vô cùng bổ ích cho bất kỳ ai quan tâm tới nghệ thuật, dù là với mục đích sáng tạo, phê bình bình luận hay đặc biệt là thưởng lãm nghệ thuật, nhất là dưới quan điểm, như chính lời Cynthia Freeland nói trong cuốn sách - “…không phải để hướng dẫn những công chúng biết cần phải suy nghĩ như thế nào, mà để tạo khả năng cho họ xem và hồi phản với tác phẩm tốt hơn là chỉ bằng tự thân họ …”(17)

Ở góc độ dịch thuật, cũng phải nói rằng, dẫu đây là một cuốn sách ngắn gọn, đã có một khối lượng rất lớn thuật ngữ từ các ngành khoa học, triết học và nghệ thuật khác nhau được sử dụng, mà trong đó, phần nhiều nhất là những thuật ngữ về nghệ thuật, theo tôi biết, mới chỉ được sử dụng hiển ngôn lần đầu tiên tại Việt nam. Nếu như các thuật ngữ về triết học cổ điển, tôi đã có được một sự may mắn lớn khi có những cuốn sách được dịch mẫu mực như Phê Phán Lý Tính Thuần Túy, Phê Phán Năng lực Phán Đoán, Hiện Tượng Học về Tinh thần(18), v.v., – của học giả Bùi Văn Nam Sơn, hay với những thuật ngữ về ngôn ngữ, tôi cũng đã có một Từ Điển Thuật Ngữ Ngôn Ngữ Học Đối Chiếu(19)của nhà ngôn ngữ học xuất chúng Cao Xuân Hạo và tiến sỹ ngôn ngữ học Hoàng Dũng – sử dụng như những đối chiếu, thì những dạng thuật ngữ khác như về truyền thông đại chúng, về các lý thuyết hậu hiện đại, hay về bản thân nghệ thuật, phần lớn tôi đã phải tự tạo lập, có tham khảo thêm từ một số nguồn tự do khác. Chính vì lẽ đó, tôi chắc rằng những thuật ngữ do tôi tạo lập ấy sẽ còn nhiều điều phải bàn kỹ, và trong tương lai, sẽ vẫn luôn mở ra cho các bổ sung và chuẩn hóa tốt hơn.

Một góc độ khác, bởi mục đích phổ cập nghệ thuật dành riêng cho công chúng phương Tây, trong cuốn sách này, khi đề cập tới các khái niệm, thuật ngữ và biến cố thuộc văn hóa, xã hội, nghệ thuật, và triết lý phương Tây, Cynthia Freeland dường như đã mặc định rằng, đó là những kiến thức phổ biến mà mọi công chúng phương Tây phải biết, hoặc sẽ dễ dàng có đủ công cụ tìm kiếm để biết. Chính vì thế, khi đề cập tới những khái niệm, thuật ngữ, hoặc biến cố nào đó mà bà nghĩ rằng có tính phổ biến, Cynthia Freeland đã hoàn toàn không kèm thêm bất kỳ chú thích nào cho chúng. Tuy nhiên, như chúng ta đều hiểu, với hoàn cảnh Việt Nam, việc đã biết sẵn – hoặc sẵn có các công cụ để tìm kiếm –về các thuật ngữ, khái niệm và biến cố (mà Freeland coi là) phổ cập thuộc văn hóa, xã hội, nghệ thuật và triết lý phương Tây, trong thời điểm hiện tại, với số đông mọi người, không phải là điều đơn giản, và như kinh nghiệm bản thân tôi, một người học và đọc, nhiều khi, chỉ vì bế tắc với một thuật ngữ nào đó, mà cơ hội để thấu tỏ một cuốn sách có thể sẽ bị chậm đi rất nhiều. Chính vì lẽ ấy tôi đã gắng hết mức( lẽ dĩ nhiên, trong giới hạn khả năng), tìm cách chú thích tất cả những thuật ngữ, khái niệm, và biến cố được đề cập không kèm theo diễn giải trong bản gốc-mà tôi cho rằng- nếu không được giải thích rõ, có lẽ sẽ gây khó khăn cho người đọc thông thường khi tìm cách hiểu được lý lẽ hay nội dung được đề cập tới. Cũng lưu ý là, các chú thích và ghi chú của tôi trong cuốn sách này không phải để dành cho những người đã hoàn toàn hiểu các vấn đề được chú thích và ghi chú đó. Chính vì thế, nhân đây, tôi cũng mong những ai đã hiểu các vấn đề được đề cập trong chú thích và ghi chú của tôi, khi đọc sách, bỏ quá cho những cảm giác phiền toái có thể có, do những chú thích và ghi chú đó chẳng may gây ra cho họ.

Bản thân tôi cũng vẫn tự biết rằng, với trình độ chưa nhiều, cả về dịch thuật và kiến thức nghệ thuật của mình, việc bắt tay vào dịch một cuốn sách, tuy ngắn, song theo tôi là rất khó và mang theo nhiều khái niệm và thuật ngữ mới mẻ thế này có lẽ là một việc khá “liều mạng” và hẳn sẽ để lại nhiều sai sót. Tôi hy vọng sau khi cuốn sách này được xuất bản, sẽ đón nhận được những đóng góp và ý kiến quý báu của các bậc thức giả và bạn đọc, ngõ hầu, trước hết là để cuốn sách có thể tốt hơn cho những lần tái bản sau ( nếu như nó tốt số) và sau nữa, là mở mang cho chính vốn kiến thức hạn hẹp của bản thân tôi.

Tôi cũng xin dành tặng bản dịch này cho bố tôi, ông Nguyễn Như Giao, với những cuốn sách về nghệ thuật ông đem về sau khi du học ở nước Đức, cũng như với sự quan tâm và định hướng cho tôi từ khi còn nhỏ, đã chính là những bước khởi đầu quan trọng dẫn tôi tới con đường nghệ thuật tôi đang theo đuổi ngày nay.

08/2008
Như Huy
———————————————————————————————–
(1) Christo và Jeanne-Claude là một cặp đôi nghệ sỹ với những tác phẩm thuộc nghệ thuật thực địa (Land Art) như phủ bọc kín nhà quốc hội Đức (Nhà Quốc Hội Bị Bọc Lại|Wrapped Reichtach, Berlin), hay sử dụng vải nhựa quây quanh các hòn đảo ở vịnh Briscayne, Miami, Florida ( Những Hòn Đảo Bị Bao Vây\Surrounded Island), 1983. Các dự án của họ thường phải mất một quá trình xin phép kéo dài tới hàng năm, hàng chục năm (tác phẩm Nhà Quốc Hội Bị Bọc Lại thậm chí có quá trình xin phép từ 1971-1995) và chỉ có thể thực hiện được với những số tiền rất lớn, thông qua quá trình xin tài trợ với những điều khoản phức tạp. Sau hết, các tác phẩm ấy còn là những tác phẩm không thể mua, bán và trao đổi trong thị trường nghệ thuật.

(2) Tác phẩm này là một bồn tiểu, được Duchamp đưa vào phòng triển lãm tại gallery 291 ở New York của Alfred Stiglitz, vào năm 1917 trong vai trò một nghệ phẩm với một cái tên giả R.Mutt

(3) Philosophy of Art, An Contemporary Introdution, Noël Carroll, reprinted by Routledge, 2006

(4) Nt. Tr.2

(5) Nt.

(6) Nt.

(7) The Routledge Companion to Aesthetics, 2nd edition, edited by Berys Gaut and Dominic Mclver Lopes, Reprinted by Routledge 2007, tr.5

(8) Nghệ Thuật Thy Ca, Aristotle, bản Việt dịch của Lê Đăng Bảng, Thành thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà, Thành Thế Yên Báy, Đoàn Tử Huyến hiệu đính, NXB Lao Động và Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây xuất bản 2007, tr.24.

(9) The Routledge Companion to Aesthetics, 2nd edition, edited by Berys Gaut and Dominic Mclver Lopes, Reprinted by Routledge 2007, tr.20

(10) Trong cuốn sách Cộng Hòa 10, Plato đã đưa thí dụ về 3 chiếc giường, trong đó, chiếc giường thứ nhất là một chiếc giường mô thức , mang tính ý thể nguyên khởi, chiếc giường thứ hai do thợ mộc làm ra, là sự mô phỏng theo cái mô thức giường nguyên khởi đó, còn chiếc giường thứ 3, do họa sỹ vẽ, chỉ là một sự mô phỏng thuần túy cách một chiếc giường nào đó hiện ra từ một góc nào đó trong không gian. Plato cũng biện biệt sự mô phỏng trong nghệ thuật thị giác bằng cách so sánh nó như thể một chiếc gương chiếu vật chỉ phản ánh thế giới một cách máy móc để qua đó cho rằng họa sỹ không hề tạo ra vật thể thực, mà chỉ là một hình ảnh. Và như thế, chiếc giường do anh ta vẽ, so sánh với cả chiếc giường mô thức và giường do thợ mộc làm, chỉ là một sự xa rời kép khỏi hiện thực mà thôi. Để tạo ra một hình ảnh chiếc giường như họa sỹ làm, không cần đòi hỏi kiến thức thuần thực. Và họa sỹ thậm chí cũng chả cần có một kiến thức mang tính sử dụng nào, để có thể mô phỏng thành công hình ảnh chiếc giường. Vì lẽ đó, hình ảnh chiếc giường mà anh ta mô phỏng xa rời hoàn toàn khỏi mọi dạng kiểu chân lý. Ở đây, các họa sỹ trừu tượng, nhìn một cách nào đó, theo Plato, có lẽ đã vượt khỏi vai trò của cả thợ mộc lẫn kẻ mô phỏng hình ảnh để đạt tới sự sáng tạo mô thức – công việc của Thượng Đế.

(11) Art always changes, Ray Bethers, Hasting house, Publishers, New York, 1958, tr.80

(12) Phê Phán Năng Lực Phán Đoán, Mỹ Học và Mục Đích Luận , Immanuel Kant, bản dịch Bùi Văn Nam Sơn, NXB Tri Thức xuất bản năm 2007, tr.136

(13) Nt. Tr.115

(14) Nt. Tr.368

(15) The Nature of Art, an anthology, edited by Thomas E. Wartenberg, Thomson/wadsworth publihsed 2002, tr.118

(16)Thậm chí vào năm 2007, từng có một hội thảo tập trung các nghệ sỹ và lý thuyết gia nghệ thuật từ các khu vực ngoại biên để bàn luận về chủ đề rằng, “phải chăng lịch sử nghệ thuật mang tính toàn cầu ? “ ( Is Art History Global? ), đặt câu hỏi vào ngay chính cái được gọi là lịch sử nghệ thuật thế giới – mà một cách ngầm ẩn – dường như chỉ là lịch sử nghệ thuật phương Tây. Các bài viết trong hội thảo này được tập hợp trong một cuốn sách cùng tên “phải chăng lịch sử nghệ thuật mang tính toàn cầu ? “, James Eskins biên tập, NXB Routledge xuất bản vào năm 2007.

(17) But is it art?, Cynthia Freeland, Oxford University press, 2002, tr.176

(18)Phê Phán Lý Tính Thuần Túy, Immanuel Kant, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, NXB Tri Thức 2004/ Phê Phán Năng Lực Phán Đoán, Mỹ Học và Mục Đích Luận, Immanuel Kant, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, NXB Tri Thức ,2007,Hiện Tượng Học Về Tinh thần, G.W.F. Hegel, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, NXB Văn Học ,2006

(19) Từ Điển Thuật Ngữ Ngôn Ngữ Học Đối Chiếu, Cao Xuân Hạo và Hoàng Dũng, NXB Khoa Học Xã Hội, 2005

Lưu ý: Chữ Form có tính thuật ngữ trong bản dịch này, tôi xin đề nghị dịch sang tiếng Việt làm ba chữ khác nhau. Form trong văn cảnh triết học Plato, tôi đề nghị dịch là Mô Thức, Form trong Formalism, tôi đề nghị dịch là chủ nghĩa hình thức, còn Form khi mô tả các yếu tố hình ảnh trong một nghệ phẩm [ có liên quan tới cách nhìn của chủ nghĩa hình thức), tôi đề nghị dịch là Mô Dạng

Nguồn: Thế mà là nghệ thuật ư? ( từ tr. 9- tr.25) NXB Tri Thức 2009, Như Huy dịch từ nguyên bản ” But is it art?”, Cynthia Freeland, Oxford University Press published 2002