Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011

Emotions, a video work by Nhu Huy| Cảm xúc, tác phẩm video của Như Huy

Emotions, video work by Nguyen Nhu Huy, 2011 from Huy Nguyen-video artist on Vimeo.



Tác phẩm một kênh
thời lượng: 14'40"

Trong tác phẩm này, tôi muốn khảo sát khoảng không gian lưng chừng giữa cái thực và cái giả, giữa quá khứ và hiện tại, giữa sự dối trá và sự thật, tức khoảng không gian mà với tôi, đang định nghĩa chính xác xã hội Việt Nam hiện tại

----

a single channel work
duration: 14'40"

In this video, I would like to investigate the in-between space between the real and the faked, the past and the present, the lie and the truth, an in-between space, to me, can define exactly Vietnamese society now.


Như Huy

(lưu ý: Xem với kích thước lớn hơn tại trang vimeo | Note: watching this video with higher resolution in vimeo page)

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2011

“ Cuộc hội ngộ của các mạng không gian nghệ thuật châu Á”, 2011 | Asian Art Spaces Network Meeting 2011, a brief report

(please scroll down for English)


Hai chủ đề chính của cuộc hội thảo chuyên đề “Cuộc hội ngộ của các mạng không gian nghệ thuật châu Á”, 2011, tại Gwangju city là, 1/ Tìm cách kết hợp làm việc gữa các không gian này, và 2/ tìm cách trao đổi thông tin nghệ thuật giữa các không gian này. Có thể nói, sau Gwangju biennale 2002, mà lõi cốt của nó là một cuộc nhìn lại tầm ảnh hưởng, diễn ngôn và các cơ cấu hoạt động của toàn bộ các không gian phá cách khắp thế giới, đây là lần đầu tiên, một cuộc tụ họp cỡ lớn, quy tụ các không gian phá cách năng động nhất ở China, Indonesia, Malaysia, Japan, Taiwan, và Philippines, cùng các không gian nghệ thuật tại địa phương ở Korea đã được diễn ra.


Thị trưởng Gwangju đọc diễn văn chào mừng hội thảo

Cấu trúc của cuộc hội thảo chuyên đề này gồm hai phần. Phần 1 là các cuộc thảo luận nội bộ và thảo luận với công chúng, và phần thứ hai là một triển lãm mang tên Asian Arts Mobility, mà ở đó các không gian nghệ thuật tại châu Á và Korea sẽ giới thiệu về các hoạt động của bản thân thông qua các phim tài liệu.

1-Tại sao châu Á, tại sao Phá cách?


Giám đốc của không gian phá cách Loop (Seoul), Jin Suk Suh, trong bài phát biểu của mình, nhấn mạnh về đặc tính châu Á trong các diễn ngôn nghệ thuật đương đại thế giới hiện nay. Ông lưu ý về hai cách tiếp cận thế giới của hai mô hình châu Á và phương Tây, mà ở đó, đặc tính duy nghiệm, chủ biệt chính là đặc tính chủ đạo trong cách tiếp cận thế giới kiểu phương Tây, còn đặc tính siêu nghiệm, và chủ toàn chính là đặc tính chủ đạo trong cách tiếp cận thế giới kiểu châu Á. Chính hai cách tiếp cận này đã tạo nên toàn bộ góc nhìn vào thế giới của con người nói chung. Giám đốc của không gian phá cách Loop cũng nhấn mạnh vào tính ưu việt của góc nhìn chủ toàn trong cách tiếp cận thế giới kiểu châu Á, mà qua đó, đặc tính toàn thể và khía cạnh tinh thần của thực tại sẽ được nắm bắt trọn vẹn hơn cách tiếp cận thế giới theo kiểu phương Tây.

Dù hoàn toàn đồng tình với sự phân chia rất tinh tế của Jin Suk Suh về hai cách tiếp cận thực tại, dẫn tới hai kết quả khác nhau, cá nhân tôi vẫn có chút băn khoăn nhỏ về việc liệu thực sự có cái gọi là đặc tính châu Á hay đặc tính phương Tây hay không? Nhìn từ một góc độ lý thuyết, người ta cũng có thể đặt ra vấn đề rằng, bản thân cái gọi là đặc tính châu Á, và đặc tính phương Tây, cái Ta và cái Họ này, cũng chính là một sản phẩm thuộc mô hình Đông phương luận (Orientalism) thuộc phương Tây, và việc nhấn mạnh có tính bản chất luận vào châu Á, như một phản đề với phương Tây cũng có khía cạnh nguy hiểm của nó ở việc chính sự nhấn mạnh này sẽ đối mặt với nguy cơ rơi vào bản thân diễn ngôn của điều mà nó tìm cách chống lại.


Thảo luận với công chúng

Đây chính là ý kiến của nghệ sỹ Hong Ju, giám đốc của không Happy Imagination Studio ( Seoul). Nữ nghệ sỹ này đã cùng chia sẻ với ý kiến của chúng tôi, từ Ga 0, Việt Nam, về việc có lẽ chúng ta không nên nhấn mạnh vào cái đặc tính châu Á, nhìn từ góc độ bản sắc ở đây, mà nên đi xa hơn nữa, nhấn mạnh vào đặc tính nhân loại nói chung, được phân biệt bởi các đặc tính định phương khác nhau (different localities). Bởi đặt cơ sở trên tiến trình loại thải (exclusive process), các cách tiếp cận dựa trên diễn ngôn về bản sắc hay bản chất luận tất yếu sẽ đưa các hành vi diễn giải của con người vào một không gian đối đầu giữa Ta và Họ. Trong khi đó, bởi đặt cơ sở trên tiếp trình bao gộp ( inclusive process) , các cách tiếp cận dựa trên diễn ngôn về tính địa phương sẽ tất yếu đưa các hành vi diễn giải của con người vào không gian đối thoại miên viễn, không gian của sự mở rộng tầm nhìn. Chính trong không gian này, theo chúng tôi, sẽmở ra con đường mới, không chỉ cho nghệ thuật châu Á nói riêng, mà còn đề nghị một mô hình khác cho các cách tiếp cận nghệ thuật đương đại thế giới nói chung.

Cũng nhìn nhận vấn đề từ một góc độ tương tự, song đi sâu vào một phân tích có tính phê phán vào tiến trình kết mạng lưới nghệ thuật. Ade Darmawan, giám đốc của không giqan nghệ thuật Ruangrupa, (Indonesia), chỉ ra sự không hiệu quả trong các hành vi kết mạng lưới trước đây. Theo anh, hầu hết cách hành vi kết mạng lưới hoạt động trước đây đều có đặt cơ sở trên việc tạo cấu trúc chứ không hề cung cấp các nội dung và chủ đề diễn ngôn mà các thành viên trong mạng lưới có thể chia sẻ và phát triển. Từ điểm nhìn này, anh đề ra một cách kết mạng mới, đó là cách kết mạng đặt cơ sở trên việc cấu tạo diễn ngôn và nội dung chung, để làm các mạng lưới trở nên các think-tank, nơi mọi thành viên đều có thể chia sẻ, thảo luận, thương thỏa, tranh cãi và qua đó tạo nên chủ đề diễn ngôn chung. Theo anh, chính mạng lưới kiểu này sẽ trở nên một bệ đỡ mở ra một đồ bản về những chủ đề cần thiết và thích hợp trong xã hội đương đại châu Á, và phát triển một diễn ngôn bao quát hơn qua việc sản xuất, chia sẻ, và phân bố tri thức nhờ vào các thực hành nghệ thuật, tức điều có thể trở nên sự đóng góp quan trọng cho khu vực.

Hu Fan, cựu sinh viên văn chương, hiện là giám đốc của một không gian nghệ thuật đương đại quan trọng, Vitamin Creative Space, có trụ sở ở cả Guangzhou, và Beijing, China, lại lưu ý về bản chất của không gian phá cách. Theo anh, không gian phá cách không (chỉ) là một không gian vật lý. Hơn thế, nó là một không gian tinh thần và tâm lý. Anh lưu ý về khía cạnh “khí vận sinh động” của một không gian phá cách. Điều gì làm cho một không gian cụ thể trở nên một không gian phá cách? Làm thế nào tạo ra năng lượng phá cách trong một không gian cụ thể trong các mối quan hệ đa tầng nơi chính không gian ấy?. Phát biểu của Hu Fan thật ra đã nhấn mạnh vào các đặc tính cốt lõi của các không gian phá cách, đó là đặc tính vận động liên tục, đặc tính gắn chặt với các nhu cầu hiện đương, đặc tính ràng buộc chặt chẽ với thực tại của mọi không gian phá cách nói chung. Phát biểu này của Hu Fan dường như được minh họa rất hoàn hảo bởi phát biểu của Jennifer Teo, giám đốc của Post-Museum (Singapore). Dù đã rất ấn tượng bởi các hoạt động trước đây trong không gian của Post-Museum, mà tiền đề của nó là nhóm nghệ sĩ p-10, chúng tôi còn ấn tượng hơn khi Jennifer, khi kết thúc phần phát biểu của mình cho biết hiện tại Post-Museum không có địa điểm cụ thể, có nghĩa rằng, không có không gian vật lý. Và tình trạng nowhere này của Post-Museum, theo Jennifer, sẽ kéo dài cho tới khi nào cô và các đồng sự của mình tím được lý do cần thiết để phải có một không gian vật lý.


thảo luận nội bộ

Có thể nói rằng, chúng tôi hoàn toàn chia sẻ với ý tưởng này của Jennifer Teo về việc liệu có cần phải có một địa chỉ vật lý hay không để có thể tạo ra được một không gian phá cách- theo cách nhìn nhận của Hufan. Tôi nhớ lại hồi năm 2003-2005, khi tôi còn chung nhóm hoạt động có tên là a little blah blah với hai nghệ sỹ là Motoko Uda và Sue Hajdu. Trong toàn bộ khoảng thời gian này, a Little Blah Blah hoàn toàn không có địa chỉ cụ thể. Tất cả các hoạt động của a Little Blah Blah đều, hoặc là sử dụng các địa điểm công cộng như quán coffe, nhà văn hóa, gallery, hoặc các địa điểm riêng tư như nhà riêng của các thành viên. Phải nhấn mạnh rằng các hoạt động của nhóm ngày ấy là vô cùng đa dạng, từ việc tổ chức mời nghệ sỹ nước ngoài talks, workshop, và thậm chí tham dự residency, cho tới tổ chức triển lãm. Như vậy, có thể nói, điều xác lập nên không gian phá cách rõ ràng không chỉ là một không gian vật lý cụ thể, mà quan trọng hơn, chính là viễn kiến và sự thông hiểu địa phương của chúng. Chính cái viễn kiến và sự thông hiểu địa phương mới là thứ tạo ra cho không gian phá cách cái “khí vận”, và qua đó, sinh ra “năng lượng phá cách”, nói cách khác, sinh ra khả năng hòa mình vào thực tại cũng như khả năng di chuyển không ngưng nghỉ trong các mo-ment đương đại của đời sống. Theo tôi, chính khả năng hòa mình vào thực tại cũng như khả năng di chuyển không ngưng nghỉ trong các mo-ment đương đại của đời sống mới tạo nghĩa được cho một không gian phá cách, có nghĩa là, mới làm cho một không gian vật lý trở nên một không gian phá cách chứ không chỉ là một nơi trưng bày thông thường của các vật thể nghệ thuật.

Một đặc điểm rất rõ rệt mà chúng tôi nhận ra qua các bản trình bày của rất nhiều không gian phá cách tại Korea và châu Á khác, như không gian Lost Generation tại Malaysia, không gian Lost Project tại Philippines, không gian Ruangrupa, Indonesia, chính là đặc tính đặt cơ sở trên các hoạt động công cộng và thông qua các dự án của chúng. Như Yeo, giám đốc của Lost Generation, Malaysia phát biểu “ nếu công chúng không đến với nghệ thuật đương đại, chúng tôi sẽ đến với công chúng”. Không cần phải nói rằng Ga 0 Việt Nam hoàn toàn chia sẻ với ý tưởng này của Yeo. Thật sự là, trong những năm gần đây, đã xuất hiện một quan điểm thực hành nghệ thuật mới trong phạm vi các không gian phá cách ở châu Á, mà trong quan điểm nghệ thuật ấy, nghệ sỹ không chỉ còn là một nhân vật thuộc giới nghệ thuật, trái lại, họ còn đã nhận lãnh vai trò mới của một nhà thực hành văn hóa. Trái với xã hội phương Tây, nơi mà các cơ sở hạ tầng về văn hóa, nghệ thuật và giáo dục nghệ thuật đã tiến tới một tầm mức ổn định và phát triển cao, nhờ đó, các chẩn mực văn hóa nghệ thuật được xác lập và tham chiếu đầy đủ, tại châu Á nói chung, và nhất là tại khu vực Đông Nam Á nói riêng, có lẽ trừ China, Japan, và Korea, các cơ sở hạ tầng về văn hóa, nghệ thuật và giáo dục nghệ thuật, đang thiếu thốn trầm trọng.

Lấy Việt Nam làm thí dụ. Cho tới hiện tại, các trường nghệ thuật ở Việt Nam, dù đã có một số ít thay đổi trên bề mặt, nhìn chung, vẫn đặt cơ sở trên một khung giáo dục cũ xưa, bắt nguồn từ thời thực dân, có kết hợp với các quan điểm mới về chủ nghĩa hiện thực XHCN. Để phân tích về cơ cấu giáo dục này thì sẽ khá dài dòng, tuy nhiên, điểm cốt yếu ở đây cần phải nêu ra là, chương trình giáo dục tại các trường nghệ thuật ở Việt Nam, cho tới hiện tại, vẫn đặt cơ sở trên sự phân biệt Mỹ Thuật và Nghệ Thuật Ứng Dụng theo kiểu Kant. Mô hình này, dù đã có kết hợp với các quan điểm sau này về chủ nghĩa hiện thực XHCN, hay gần đây, với các hình thức nghệ thuật mới như video, song bởi về bản chất, nó đặt cơ sở lý thuyết trên quan điểm nghệ thuật như sự mô phỏng, có từ thời Hy lạp, hay cơ sở mỹ học (không đầy đủ) của Kant, thế nên, các nghệ sỹ trẻ khi ra trường, nếu tìm cách tiếp cận với nghệ thuật đương đại, đặt cơ sở trên tính ý niệm và tính phản tư, phê phán, sẽ phải đối mặt với những khó khăn lớn của việc áp dụng những gì mình được dạy vào thực hành nghệ thuật.

Về mặt công chúng địa phương, việc hoàn toàn thiếu thốn các bệ đỡ giúp họ có thể làm quen và hiều nghệ thuật đương đại như các bảo tàng đương đại, các sách báo nghệ thuật đương đại, tiếng Anh hay dịch tiếng Việt, các hình thức giáo dục kiến thức nghệ thuật đương đại thường thức, hay các không gian mở giữa nghệ sỹ đương đại và công chúng cũng đã đưa họ vào một ma trận của sự hiểu lầm về không chỉ ý nghĩa, mà còn thực hành của nghệ thuật đương đại trong đời sống của họ. Tình trạng này đã biến không gian nghệ thuật đương đại Việt Nam thành một không gian đối đầu mà ở đó công chúng có vẻ luôn cho rằng nghệ sỹ đang lừa đảo mình, còn nghệ sỹ có vẻ luôn cho rằng công chúng kém cỏi- không hiểu gì về việc họ làm.

Kết quả sau cuối là công chúng và nghệ sỹ đương đại Việt Nam hiện tại hình như đang trở thành hai biệt cư (ghetto), mà biệt cư này luôn xác định về biệt cư kia trên các thông tin sai và mang nặng tính suy diễn bởi hoàn toàn thiếu đi sự đối thoại có phê phán được khởi hoạt từ các công cụ đối thoại có hiệu lực

Tình trạng này theo tôi hoàn toàn không chỉ là một tình trạng của duy nhất Việt Nam, mà còn ở các xã hội nơi nghệ thuật đương đại là một thực hành có tính du nhập theo quá trình hiện đại hóa thông qua các biến cố thuộc địa hay tiến trình hậu thuộc địa. Chính ở tại các xã hội này, các không gian phá cách phải đối mặt với các thách thức lớn về mặt nhận thức xảy ra giữa các thực hành của chúng và sự tiếp nhận của công chúng địa phương. Tuy nhiên, chính trong những thách thức, mà các cơ hội mới mẻ sẽ được mở ra. Một trong những cơ hội đó chính là cơ hội để bước ra khỏi ghetto của bản thân và tham gia vào trong đời sống ở các cấp độ cơ sở nhất của nó, tức các cấp độ đặt yếu tính trên không gian trải nghiệm chứ không phải trên không gian nhận thức học.


Gwangju Kunsthalle, nơi diễn gia các cuộc thảo luận

Các ví dụ từ Ruangrupa, Post-Museum, Lost-Generation, hay Lost-project hoặc Vitamin Creative Space, etc, đều cho thấy rõ việc chính các môi trường mang tính trải nghiệm mới là các đóng góp quan trọng nhất mà các địa chỉ phá cách thuộc Nam Á này đang tạo ra cho các xã hội địa phương. Tuy nhiên chúng ta cũng không nên nhầm lẫn khi nghĩ rằng các môi trường trải nghiệm này chỉ có tính thuần túy giải trí. Để nhìn nhận một cách thấu đáo, có lẽ ta phải nhìn nhận rằng các môi trường trải nghiệm đó, do các địa chỉ phá cách này tạo ra trong quá trình dấn thân vào đời sống, chỉ là các cú pháp, để qua đó, đạt tới sự chia sẻ diễn ngôn về mặt nhận thức với công chúng địa phương. Thực tế cho thấy rằng, trong một văn cảnh thiếu vắng đi toàn bộ các cơ sở hạ tầng về mặt nhận thức học về nghệ thuật và văn hóa, việc khởi hoạt các thực hành chỉ thông qua cú pháp nhận thức học sẽ luôn thất bại bởi sự tồn tại song song của các chuẩn nhận thức văn hóa nghệ thuật khác nhau giữa không chỉ công chúng và nghệ sỹ, mà còn giữa nghệ sỹ và nghệ sỹ, công chúng và công chúng.Việc khởi hoạt các thực hành thông qua cú pháp nhận thức học có lẽ sẽ chỉ làm sâu thêm hố sâu ngăn cách giữa công chúng và nghệ sỹ, nghệ thuật và đời sống hiện đương mà thôi. Rõ ràng trong tình huống này, việc lựa chọn mô hình thực hành dựa trên cú pháp mang tính trải nghiệm, để qua đó đạt tới một nhận thức thông qua đối thoại với công chúng địa phương sẽ có nhiều lợi thế hơn, đặc biệt là trong phạm vi các khu vực văn hóa xã hội thuộc Nam Á. Ngoài các lợi thế về việc mở ra được một kênh đối thoại với công chúng, các địa chỉ phá cách thuộc Nam Á, khi sử dụng cú pháp mang tính trải nghiệm để khởi hoạt các hành vi của mình, sẽ còn có điều kiện để đi vào chính đời sống hiện đương, và từ đó, gặp gỡ, phát hiện, xây dưng các nội dung, hay các chủ đề diễn ngôn mới về văn hóa và nghệ thuật trực tiếp và trực thời

2-“ Cuộc hội ngộ của các mạng không gian nghệ thuật châu Á”, 2011, tiền đề mới cho sự hợp tác và chia sẻ thông tin

Trong bài nói của mình, Chan Dong Kim, phê bình gia nghệ thuật nổi tiếng, cựu giám đốc của Arko Art Center ( Seoul) đã nhấn mạnh về việc phải đưa ra một ý tưởng mới cho dự án kết mạng làm việc của các không gian phá cách châu á. Ông cũng cho biết, vào đầu thập kỷ 1990, các không gian phá cách tại Korea, hay các hành vi nghệ thuật của nó đã thiết lập bản thân như một hệ thống mới mẻ đồng thời cũng đưa ra các đề nghị mới cho nghệ thuật thuộc định chế. Tuy nhiên, vào thời điểm này, sự nhấn mạnh lớn hơn của các không gian phá cách không nằm ở việc đưa ra các đề nghị mới mẻ cho dạng nghệ thuật thuộc định chế, mà ở việc mở rộng các không gian nghệ thuật phá cách để cổ vũ các nghệ sỹ mới mẻ. Ông cũng lưu ý về việc nên diễn giải các chủ đề và thực hành của không gian phá cách châu Á trong chính hoàn cảnh thực tế của nó tại châu Á, chứ không chỉ trong mô hình chung có nguồn gốc từ phương Tây. Kết thúc bài phát biểu của mình, ông nhấn mạnh “ Dù không cần thiết phải phân biệt rạch ròi giữa Đông và Tây, điều quan trọng mà các không gian phá cách châu Á cần lưu ý là phải duy trì một quan điểm thoát khỏi các góc nhìn hay định niệm thực dân chỉ phản ánh môn Đông phương luận mà thôi. Một quan điểm cá nhân và triết lý nghệ thuật riêng của không gian phá cách sẽ là những gì tạo ra được nội dung thực sự cho nó”

Jin Suk Suh, giám đốc của không gian phá cách Loop (Seoul) đã đưa ra sáng kiến là một dự án lưu trữ thông tin cho các không gian phá cách châu Á. Theo ông, dự án này sẽ giúp các không gian phá cách ở Taiwan, Malaysia, Vietnam, Singapore, Indonesia, Japan, China, Thailand, Philippines, và Hongkong có thể chia sẻ thong tin về triển lãm, các dự án, và các ấn phẩm. Một trong những ý tưởng của ông về dự án chia sẻ thông tin này, mà chúng tôi rất đồng tình, là ý tưởng xuất bản và chia sẻ ấn phẩm. Các không gian phá cách châu Á, vào mỗi năm, sẽ xuất bản từ 1, đến 4 cuốn sách về một số chủ đề chung nhất định. Sau đó, sẽ trao đổi lẫn nhau các ấn phẩm đó của mình. Như vậy, trong vòng 10 năm, từ khoảng, chẳng hạn, 10 không gian phá cách khắp châu Á, mỗi không gian sẽ lưu trữ được khoảng từ 100-400 cuốn sách từ các không gian bạn, qua đó tạo nên một kho lưu trữ dữ liệu thông tin cho riêng mình. Cần nhấn mạnh rằng các thông tin được lưu trữ này không chỉ là các thông tin đơn thuần, mà bởi đều là những cuốn sách được xây dựng nên từ một số chủ đề chung, thế nên đều có tính diễn ngôn và lý thuyết/lý thuyết hóa. Chính vì lẽ đó, các thông tin ấy sẽ không chỉ tạo nên một kho dữ liệu đơn thuần, mà còn là cả một không gian nhận thức có tính phê phán, qua đó, tạo thành nguồn mạch chia sẻ tạo sinh và có tính so sánh, tạo nên một hệ thống hiểu biết thực sự về cả hai mặt thực hành và lý thuyết về nhau.

Nhìn ở góc độ lý thuyết, đề nghị của Jin Suk Suh theo tôi, chắn chắn đã là một đề nghị tạo nên một hệ thống dây mơ rễ má (rhizomic system) – thách thức với hệ thống cũ xưa đặt cơ sở trên cấu trúc tuyến tính. Hai triết gia Gilles Deleuze và Felix Guattari đã đề nghị ra một hệ thống quan hệ mới, mà các ông gọi là rhizome để cổ vũ cho tính đa nguyên và các kết hợp phi phân cấp, đối lập với các khung xương quan hệ và kết hợp kiểu cũ, mà ở đó nhấn mạnh vào các kết nối có tính thời gian, tính hai chiều, và cấu trúc tuyến tính của sự “tăng trưởng” – tức tất cả những gì là xương sống cho tư duy về sự “phát triển” thuộc phương Tây. Trong hệ thống dây mơ rễ má này, hoàn toàn không tồn tại mối quan hệ có tính phân cấp giữa trung tâm và ngoại biên. Nói cách khác, ở đây, tất cả đều là trung tâm và đồng thời tất cả đều là ngoại biên trong một chuyển động miên viễn của các kết nối đa hướng sẽ liên tiếp tạo nên các nội dung mới

Không cần phải nói rằng Ga 0 hoàn toàn đồng tình với ý tưởng này. Lý do chính yếu cho sự đón chào và đồng tình của bản thân tôi với ý tưởng của Jin Suk Suh nằm ở chính kinh nghiệm cá nhân của tôi, vừa trong vai trò là giám đốc nghệ thuật của không gian phá cách Ga 0, Việt Nam, vừa là một giám tuyển độc lập và nghệ sỹ. Thật sự là trong quá trình hoạt động nghệ thuật của mình, tôi đã luôn cảm thấy thiếu thông tin, không phải về nghệ thuật phương Tây, bởi dù sao, trong thời buổi toàn cầu hóa và internet này, và nhất là với sự hùng mạnh của ngành xuất bản và truyền thông phương Tây, các thông tin dạng đó không hề thiếu thốn, nếu không muốn nói là thừa thãi. Sự thiếu thông tin của tôi là về chính các không gian nghệ thuật gần gũi với mình nhất, trong cùng khu vực với mình, tức các không gian phải đối diện với những hoàn cảnh tương tự với Việt nam, và cũng phải tạo ra những nỗ lực sống sót trong thực tại tương tự với nỗ lực của các nghệ sĩ Việt Nam. Từ kinh nghiệm này, tôi thực sự hy vọng rằng ý tưởng của Jin Suk Suh sẽ sớm trở thành hiện thực.


Toàn cảnh cuộc thảo luận với công chúng

Ade Darmawan từ Ruangrupa, Indonesia, cũng đóng góp vào hội thảo với ý tưởng đề ra một nghiên cứu về việc nghệ thuật phương tiện truyền thông mới đã du nhập, và rồi thay đổi ra sao, không chỉ cách tiếp cận của các nghệ sỹ châu Á với thực tại, mà còn chính các thực tại văn hóa, xã hội tại châu Á. Trong vai trò giám đốc của Ruangrupa, một không gian nghệ thuật phá cách vô cùng năng động tại Indonesia, với các liên hoan video quốc tế rất có uy tín hai năm 1 lần, mang tên Ok Video, phải nói rằng ý kiến của Ade Darmawan là rất đáng lưu tâm.

Dĩ nhiên là cùng lúc cũng đã có rất nhiều ý tưởng khác được nêu ra, trong đó có các ý tưởng về việc giám tuyển các triển lãm chung, theo từng chủ đề nhất định, tức các chủ đề mà ở đó có sự chia sẻ chung của các nước châu Á, chẳng hạn như sự tác động của tôn giáo trong cái nhìn của nghệ thuật đương đại, vai trò của nghệ sỹ đương đại như một thực thể chính trị, xã hội trong không gian của các biến cố chính trị, xã hội thuộc châu Á, hoặc tác động của thời chiến vào thời bình, ở mọi góc độ vô thức, ngôn ngữ là ra sao, và qua đó, tạo ra những ảnh hưởng gì với đời sống thực tại của con người, etc.

3-Kết luận

Cuộc hội thảo, dù rất ngắn ngày, phải nói đã được tổ chức hoàn hảo. Tất cả các chương trình đều được thực hiện trọn vẹn. Phần triển lãm được tổ chức tại Geumanamro Gallery, trực thuộc bảo tàng nghệ thuật Gwangju đã được tổ chức rất tốt. Mỗi không gian phá cách thuộc châu Á đều đã tham dự triển lãm bằng một video giới thiệu về các hoạt động của mình. Ga 0, Việt Nam đã đem tới triển lãm bộ phim tài liệu ngắn, “Graffiti in the alley, an art project, a real life”, giới thiệu về dự án mới nhất của ga 0.

Để kết thúc bài review ngắn, và còn xa mới là đầy đủ này, tôi xin được trích lời của bà Jeongsuk Nam, giám đốc của mạng không gian nghệ thuật châu Á, giáo sư thỉnh giảng tại đại học Sungkyukwan.

“một giấc mơ chỉ một người mơ thì sẽ mãi chỉ là huyễn tưởng, song một giấc mơ được chia sẻ bởi nhiều người sẽ biến thành một hy vọng khổng lồ”

Đúng như vậy, theo tôi, cuộc gặp gỡ đầu tiên này giữa các không gian nghệ thuật châu Á, với các đề nghị cụ thể, với các cuộc thảo luận cụ thể, với các kế hoạch làm việc cụ thể giữa các không gian với nhau, đã không còn chỉ là một huyễn tưởng nữa, mà chắc chắn đã trở nên một niềm hy vọng mới cho tất cả chúng ta.





Như Huy

Ga 0 (www.zerostationvn.org)



----------


Click here to read English version of this report

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

Thơ

Giữa xác chết của các ngôn ngữ gầy gò, trong bóng tối của những lòng tốt vô minh béo phì, bên vực sâu ngu xuẩn của bao-nỗi-lạc-cảm-thụ, thơ đã xuất hiện

Giữa nỗi chán chường hằn dấu lên khuôn mặt thường nhật, trong vết cắt của biết bao nhát-ngữ-pháp-sai lên da thịt ngôn-ngữ-mẹ, bên cánh cửa dẫn thẳng vào phản bội, thơ đã lắng nghe

Giữa tháng ngày mệt mỏi của sự-độc-ác, trong tiếng kêu khản giọng gọi cha của những đứa trẻ mù, bên đám đông dối trá vẫn đang tiếp tục ám hại nhau suốt kiếp này qua kiếp khác, thơ đã cất tiếng gọi

Và điều kì diệu của thơ là;

Không-Một-Ai-Nghe-Thấy-Nó





Như Huy 2011

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

Thư mời tham dự tuần bế mạc dự án “Vẽ graffiti lên tường hẻm”

Thưa các bạn, “thời gian thấm thoắt thoi đưa”^^, chúng ta dần đang đi đến ngày kết thúc của dự án nghệ thuật “vẽ graffiti lên tường hẻm”, do Ga 0 và Click 9 thực hiện tại cư xá 288 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, p.8, q.3, HCMC.

Trong suốt 26 ngày ( từ 12 tháng bảy đến mùng 7 tháng Tám), từ ngày đầu tiên, khi các nghệ sĩ bắt đầu bỡ ngỡ bước vào một không gian dường như ít quen thuộc với họ, và khi những người dân cư trú trong hẻm 288 lâu nay cũng bắt đầu bỡ ngỡ quan sát một điều gì đó hầu như là chưa từng thấy bao giờ, thật sự là đã có một cuộc đối thoại có lúc ngầm ẩn, có lúc tường minh, có lúc vừa ngầm ẩn vừa tường minh xảy ra, giữa bên này và bên kia, giữa ta và họ, giữa mới và cũ, giữa điều quen thuộc và điều không quen thuộc…



Và như triết gia Gadamer đã nói, bản chất của cuộc đối thoại không nằm ở việc thuyết phục, ngay khi sự thuyết phục xảy ra, cuộc đối thoại đã thất bại vì ở đó xuất hiện tình trạng áp đặt, hoặc ngầm ẩn thông qua logic, hoặc tường minh thông qua quyền lực. Đối thoại, theo Gadamer, chính là đối thoại với bản thân ngay trong khi đối thoại với kẻ khác, để đối thoại được với kẻ khác, để qua đó, tầm nhìn của cả hai đều được mở rộng.

Từ góc độ của nhà tổ chức cho dự án này, chúng tôi đã tìm cách tạo ra sự xuất hiện của hai cái khác trong cùng một không gian đời sống, để qua đó tạo điều kiện cho mỗi cái khác đó, thông qua quá trình đối thoại với bản thân sẽ đối thoại được với cái khác nó, hoặc thông qua quá trình tìm cách đối thoại với cái khác nó sẽ hiểu rõ hơn về bản thân. Chính từ quá trình đối thoại nhiều chiều này, mà rồi chúng tôi hy vọng trong bản thân mỗi cái khác đều sẽ xuất hiện một không gian mới mẻ - tức không gian của sự thông dịch. Và Thông dịch, cũng theo Gadamer, chính là sự hiểu.

Và trong không gian thông dịch, không gian hiểu này, cũng lại sẽ xuất hiện tự động các hành vi mới, như diễn giải, áp dụng, hay thậm chí sao phỏng, để từ đó, cuộc đối thoại đạt tới một tình huống lý tưởng cho các bên đối thoại, tức tình huống của sự hòa trộn tầm nhìn, nới rộng tầm nhìn, mà không tự đánh mất mình trong diễn ngôn áp đặt, không chỉ của kẻ khác, mà của chính mình vào lúc tìm cách áp đặt kẻ khác.

Chính vì thế, là một nhà tổ chức và giám tuyển của dự án, chúng tôi xác định rõ nhiệm vụ chủ yếu của mình chính là việc thiết lập điều kiện cho sự đối thoại xảy ra, một điều kiện mà ở đó, các bên đối thoại có thể thấy nhau rõ nhất, có đủ thời gian để lắng nghe nhau, có đủ không gian để di chuyển trong tiến trình mở rộng tầm nhìn tự động và không ngưng nghi trong suốt quá trình đối thoại.

Để cho thấy rằng đây không chỉ là những lời lẽ theo kiểu lý thuyết, chúng tôi sẽ dẫn ra ngay một ví dụ cụ thể trong dự án này, qua đó, làm rõ hơn việc đối thoại, thật ra là một thách thức, một sự đi dám đi ra ngoài bản thân mình, thậm chí về mặt đời thường chứ không chỉ trong ngôn từ và lý thuyết.

Vào ngay ngày thứ ba của dự án, trong khi các nghệ sĩ đang vẽ lên tường, một đoàn gồm công an khu vực, dân phòng đã bất ngờ đến, yêu cầu các nghệ sĩ tạm ngưng vẽ để làm rõ mục đích, ý đồ của việc vẽ lên tường công khai và thường kỳ trong một khu dân cư đông đúc. Chính ngay ở đây, một điểm đối thoại đã xảy ra. Tại điểm đối thoại này, các kinh nghiệm khác nhau đã xuất hiện. Về phía nghệ sĩ, đó là kinh nghiệm của việc đối mặt với một tình huống có thể buộc họ phải chấm dứt câu chuyện của mình. Về phía chính quyền, đó là kinh nghiệm của việc đối mặt với một sự “có vẻ như” vi phạm công khai các tâm thức mặc định cũ về văn hóa và nghệ thuật, thậm chí đôi chút chính trị. Về phía cư dân trong hẻm, kinh nghiệm của việc rơi vào trong một tình thế mâu thuẫn giữa những gì họ thấy trong vài ngày trước- tức những gì mà với họ là bắt đầu dễ chịu và sinh động, với những gì ngay lúc này họ quan sát – tức những gì có thể là một sự che giấu của những điều đáng ngờ.

Chính trong điểm đối thoại này, đã sinh ra các sự thương thỏa, diễn giải, lắng nghe, phản tư, và rồi thông dịch. Tất cả những điều này các bạn có thể thấy trong video clip thú vị, phỏng vấn ông tổ trưởng dân phố.

<

Trong clip này vị tổ trưởng, trong vai trò là cầu nối giữa chính quyền địa phương và khu dân cư, đã tự mình, không chỉ thông dịch, diễn giải thực hành của các nghệ sĩ vào chính kinh nghiệm cũ về nghệ thuật về văn hóa của mình, mà còn thông dịch và diễn giải chính kinh nghiệm của của bản thân vào một dạng thực hành mà ông gần như là lần đầu tiên chứng kiến đầy đủ. Chính qua sự diễn giải này, mà rồi chúng ta cũng có thể thấy được bản thân thực hành graffiti, có nguồn gốc phương Tây, trong cuộc đối thoại cụ thể này, đã được thông dịch ra sao vào không gian tiếp nhận địa phương.

Với các nghệ sĩ, chính kinh nghiệm mới này cũng đã phần nào cơi nới tầm nhìn của họ về không chỉ graffiti, mà còn chính thực hành nghệ thuật công cộng nói chung. Cụ thể nhất ở đây chính là việc, trong tiến trình vẽ hàng ngày của họ, ngoài những thông điệp thị giác thuần túy của nghệ thuật graffiti, đã xuất hiện một yếu tố mới. Một nghệ sĩ trong nhóm vẽ đã hoàn toàn tự động tìm tới một bà cụ sống một mình trong khu phố này, để vẽ chân dung lớn của bà lên bức tường. Sau đó, nghệ sĩ nay cũng lại tìm thêm một em bé sống trong khu phố và vẽ chân dung em lên tường.



Về phần người dân, kinh nghiệm đối thoại mới mẻ này cũng lại đã dẫn họ đến các cách diễn giải mới về nghệ thuật, mà trong cách diễn giải này, nghệ thuật và họ không còn là hai phạm trù hoàn toàn xa cách và biệt lập nữa. Cụ thể là, sau khi đã quan sát rất lâu, rồi trò chuyện với các nghệ sĩ, và nhất là sau khi chứng kiến các khuôn mặt chân dung của chính những người dân sống trong hẻm được vẽ lên tường, một người dân đã chủ động tìm tới các nghệ sĩ vẽ graffiti để đề nghị các nghệ sĩ vẽ chân dung của vợ mình, cùng các con và đồ chơi của chúng như một món quà mà ông muốn dành tặng gia đình.



Về mặt chính quyền, sau cuộc đối thoại kể trên, việc họ đã để yên cho các nghệ sị graffiti làm việc tiếp tục cho tới hết dự án cũng đã chứng minh hoàn hảo việc trong bản thân họ- hay nói chính xác hơn, bản thân những người đại diện hợp pháp của họ, cũng đã xảy ra một sự diễn giải, thông dịch, qua đó, tầm nhìn của họ cũng đã có sự cơi nới

Còn với bản thân ga 0, có lẽ không cần phải nói rằng các kinh nghiệm mới mẻ này đã cơi nới- như vẫn luôn luôn vậy qua các dự án trước đây- chính tầm nhìn của chúng tôi ra sao trong cả bản thân diễn ngôn lẫn cú pháp của chúng tôi, trong nỗ lực tìm cách chuyển hóa “ từ diễn thành đời”, hay có thể nói theo một cách khác mà hiện chúng tôi đang cảm thấy thích thú hơn (có lẽ cách nói này cũng đến từ chính các trải nghiệm mới của chúng tôi) – trong nỗ lực tìm cách di chuyển không ngưng nghỉ giữa diễn và đời.

Lẽ dĩ nhiên, ví dụ nêu trên chỉ là một điểm (và có lẽ là tường minh nhất) trong vô số điểm đối thoại khác xuất hiện tại mọi ngóc ngách của chính dự án này. Chúng tôi tin rằng các bạn, nếu quan tâm, sẽ thấy vô số điểm đối thoại khác lộ ra trong các hình ảnh chúng tôi cập nhật lên blog, facebook, trong các trao đổi đối thoại giữa các thành viên của dự án trên facebook, trên blog, hoặc qua chính các bài báo, hay các chương trình truyền hình làm về dự án.

Nếu có hứng thú và quan sát kĩ, tôi tin rằng chính các bạn sẽ thấy ra những cách đọc, diễn giải, thông dịch, hay áp dụng khác nhau vào bản thân dự án, qua đó, vào bản thân thực hành nghệ thuật graffiti, tức tất cả những gì mà theo chúng tôi đang chứng minh rằng hình như đang có một sự hiểu nào đó được khởi hoạt tư rất nhiều góc dộ và cấp độ khác nhau, không chỉ với nghệ thuật graffiti, với bản thân dự án “vẽ graffiti lên tường hẻm”, mà còn với chính nghệ thuật đương đại, nghệ sĩ đương đại và vai trò thực hữu của những thành phần này trong xã hội hiện tại.


The report of HTV ( Hochiminh city Television Channel 7) on the project" Graffiti in the alley" [with EN sub]

Trở lại với mục đích chính của là thư này. Đó là việc mời các bạn tới tham dự tuần cuối của dự án “vẽ graffiti lên tường hẻm”. Trong tuần cuối cùng của dự án, từ ngày mùng 2 đến ngày mùng 7 tháng Tám 2011 chúng tôi sẽ có hai sự kiện.

Sự kiện thứ nhất sẽ diễn ra từ mùng 2 đến mùng 6 tháng 8 ( từ 1 giờ chiều đến 7 giờ tối mỗi ngày). Trong bốn ngày đó, các nghệ sĩ graffiti sẽ đi tới việc hoàn tất bức tranh tường bên ngoài, đồng thời, ở không gian trưng bày của Ga 0, họ cũng tổ chức một không gian trưng bày mà ở đó sẽ có các màn hình trình chiếu lại quá trình vẽ tranh trong gần một tháng của họ, cũng như các clips phỏng vấn và phóng sự của dự án. Trong những ngày này, và trong không gian trưng bày bên trong này, công chúng sẽ có cơ hội để trao đổi chuyện trò trực tiếp với các nghệ sĩ.

Sự kiện thứ hai, đó là buổi party khai mạc vào chiều ngày mùng 7 tháng Tám (Chủ Nhật), bắt đầu vào lúc 6h chiều. Đây sẽ là một party mở, không chỉ cho các nghệ sĩ và bè bạn của họ, mà còn cho chính những người dân sống trong hẻm, tức những người là thành phần tham gia vào cuộc đối thoại trong vòng gần một tháng vừa qua.

Cuối cùng, chúng tôi xin dành lời cảm ơn trân trọng và chân thành nhất tới các nghệ sĩ, các “công nhân nghệ thuật” của ga 0, như Ben, em Lê My, em Nhàn, bạn Phí Từ Việt, cùng những người bạn của ga 0, như Phan Anh, em Quỳnh Nguyễn, bạn Tuấn Kiệt, cùng các bạn khác, tức những người đã làm hết sức mình để cho dự án thành công như hiện tại.

Lẽ dĩ nhiên, lời cảm ơn này cũng phải dành tới nhóm nghệ sĩ graffiti Click 9, cùng các bạn nghệ sĩ cộng tác như Nguyễn Đức Thịnh, Hoàng art, Lê Long, Laurrent, và vô số các bạn nghệ sĩ khác mà chúng tôi có khi chưa kịp biết tên, đã tới và tham dự nhiệt tình vào quá trình đối thoại giữa nghệ thuật và cuộc sống.

Chúng tôi cũng xin trân trọng dành lời cảm ơn cho các cơ quan truyền thông báo chí, như báo sài Gòn Tiếp thị, báo Văn Hóa Thể Thao, kênh truyền hình VTC 10, chương trình truyền hình “Chào ngày mới”, kênh HTV 7, trang web AnyArena, Hanoigrapevine và soi, cùng các bạn bè là phóng viên báo chí khác đã quan tâm và cổ vũ, hoặc đăng thông tin về cho dự án.

Xin trân trọng gửi lời chào tới các bạn, hẹn gặp lại các bạn trong tuần sự kiện sắp tới, và dĩ nhiên là, trong các sự kiện sắp tới do ga 0 thực hiện

Thay mặt ga 0
Giám đốc nghệ thuật

Như Huy

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2011

The introduction of the new project of ZeroStation: Graffiti in the Alley


a film on a graffiti group ( Click 9) in Saigon, produced by ZeroStation (www.zerostationvn.org)


Some brief reflections on the interpretations of the other

Like any other Western art disciplines introduced to Vietnam, the presence of graffiti generates many conflicting ideas from not only local people but also the cultural and artistic researchers. Basically, Graffiti is an anti/non-institutional art style and belonging to the subculture as well as the urban culture. Therefore, when appearing in the societies with highly institutionalized cultural policies like Vietnam, it is often read and interpreted in a politically and culturally exotic way of protesting the politics and the society, thus, conveys the message based on a historical-oriented perspective of the societal development following the Western patterns in the developing countries, the third world. This is not a wrong interpretation. However, it contains many hazards. The most hazard, to me, is that the interpretation in this way is not based on an open dialogue, but mainly on the prejudices of the interpreters, thus, frequently it ignores the other possible interpretations. In other words, this way of interpreting, because of the quick in understanding other, may contain the risk of guiding the interpreter to the ethnocentric understanding space, as in an article on Gadamer’s philosophy, professor Charles Taylor has explained clearly:

“For the problem is that the standing ethnocentric temptation is to make to quick sense of the stranger, i.e., sense in one’s own terms. The lesser breeds are without the law, because they have nothing we recognize as law. The step to branding them as lawless and owtlaw is as easy as it is invalid and fateful” (1)

There is an example that can show the danger of the interpretation that only bases on the prejudice of the interpreter in an interview between a curator Jérôme Sans and a Chinese artist Qiu Zhijie. Here Qiu Zhijie gave a different viewpoint about graffiti

“Yes. Ealier you mentioned graffiti. I have actually given a lot of thought to this question, because graffiti is so wide-spread in European cities today, often called illegal activity. In ancient China there is one form of graffiti that was legal, which is when a poet or calligrapher arrived at a site or natural wonder, if he found inspiration he could write a poem on the rock or on a column. We never saw this as destruction; on the contrary, we take it as elegant and refined”(2)

Definitely, it is not difficult to see the way of reading that Qiu Zhijie used to interpret the Graffiti also faces the identical problem with its opposite (here is the way of reading about graffiti from Western point of view), By this way, the artist has also thoroughly denied the horizon of the other (here is the way of reading about graffiti from Western point of view), then converge all on the prejudices or his own existing conceptual framework.

Thus, the most striking thing recognized is that all of the ways of interpretation are based only on the prejudices and the existing conceptual framework of the interpreters, because if its nature will make the world become poor, it will always lead to the intelligibility of the world.

In fact, even in the Western countries which are often considered as the cradle of modern graffiti art, there is a controversy of whether recognizing it as an anti-social practice and belongs to the subculture or as a commercial practice and belongs to a commercial world.

In the book “ But is it art?”, writing about some famous graffiti artists like Barry Mc Gee or Jean Michael Basquiat who are built as heroes denying commercial system of capitalism to live in a normadic life ( one may refer to the movie “jean Michael Basquiat by Julian Schnabel, in which Basquiat appeared as an innocent, beautiful and angelica character, as an antithesis to the capitalist world of commercial art), Cynthie Freeland has also recognized that: “…like Jean Michael Basquiat và Barry Mc Gee , get caught up in the system when their work become marketable” (3). Freeland Cynthie even, with slightly ironic tone, writes:

“His work ( Barry McGee) has been shown in galleries from San Francisco, Mineapolis to São Paulo. I confess to formenting some wicked plans for the gallery’s windows when I read in a catalogue essay at one of his art exhibition that McGee once said, “ Some times a rock soaring through a plate of glass can be the most beautiful, compelling work of art I have ever seen”(4)

Graffiti in Vietnam

One key of reading about Graffiti art in Vietnam, I think, is in the nature of its importation. In terms of culture, as an importation occurs, there always be accompanied and automated process of rejection and acceptance. The problem is that a fact can only become a historical moment when and only when it finds a reason for it existence in the reality. In other words, if and only if it is insured by the acceptance of the context in which it appears. The philosopher Arthur C. Danto has interestingly analyzed the relationship between context and fact in his essay “Master Narratives and Critical Principles” where he had raised a hypothesis of the “Chinese artists living in Qing who knew about the perspective from the missionary painter Father Castiglione, but who felt that there was no room in their artistic agenda for its assimilation” (5). This, I think, is the typical case of a fact that could not become a historical moment and was thoroughly rejected.

However, even in case of an acceptance, it would have to undergo a range of filters in order to be intelligible in a new context. In other words, the importation would have to follow a process that is called "cultural translation" by Homi Bhabha, i.e. the translation that ”…a way of imitating, but in a mischevious, displacing sense …in such a way that the priority of the original is not reinforced but by the very fact that it can be stimulated, copied, transferred, transformed, made into a simulacrum and so on”(6). This means, an importation, after undergoing a translating process, will become a "third space" and will be different from the original and the translation, in which "the alternatives may occur".

An example of this case is a project called GAS graffiti (graffiti in art school). This project was operated in 2007 by artist Phan Hai Bang, a lecturer of graphic art in Hue University of Art. In the statement of the project, Hai Bang wrote: “To use graffiti art as an instrument, not to against society, but to integrate in the local framework…to behave culturally, to promote creativity with the consciousness of respecting and protecting the city landscape…

One of the typical projects of this group is “Drawing on helmets” (from 7 Sept to 15 Nov, 2007 ( in Hue), and from 23 to 31 Sept ( in HCMC). Round the late half of 2007, the Vietnamese government officially requested the people to wear helmets when travelling on motorcycles. The request seemed very difficult to be implemented because it would change many habits of Vietnamese people. One of these is about aesthetics. People hardly accept wearing the same “hat” which equate all personalities (may this fear be a sequel of the period that people dressed and behaved in a similar manner?). The GAS artists used paint-sprayers to draw on helmets for free in public places in HCMC and Hue. People might think of the decorative motif, or use one of the available templates. This project attracted many participation and attention of the mass media in Vietnam.

The project : Graffiti in the alley

In this project, ZeroStation will collaborate with Click 9, one of the graffiti teams in HCMC, to create an art project using graffiti as a tool to awaken the interaction between people living in the neighborhood where ZeroStation is located and art.



This is a typical quarter in the heart of Saigon with a large yard where daily activities taken naturally, kids play football, their parents chatter, etc. in the afternoon. Click 9 will draw graffiti continually pictures on the wall of ZS for nearly a month (since 12 July- 07 August). It this period of time, the artists will have an opportunity not only to draw graffiti and thereby create lively visual art space for the neighborhood, but also have an opportunity to communicate and interact directly with the residents as well as to create a close approach by suggesting people to involve in the process of drawing with them.

For nearly one month, there will be plenty of graffiti paintings to be drawn, to be deleted, and to be re-drawn, thereby emphasizing the ephemeral nature of street art practices and non-institutional as well as the progress of a public art project which is not (only) based on the aesthetic object, and (still) mainly on the relationship and the openness of dialogue

From my reflection above on the importation, the rejection, the acceptance, the reading based on prejudices and existing conceptual frameworks against the reading based on dialogue and translation, ZeroStation considers this project as a test of the translating, not only graffiti art into the local cultural space, through the sequent appearance of the big-sized graffiti paintings in residential areas, and but also translating local cultural space into graffiti art.

It is through the two-way interpretation, we hope to open a third space, i.e. the space of dynamic, multiple and productive dialogue.


1- Charles Taylor, Gadamer on Human Sciences, in The cambridge companion to Gadamer, edited by Robert J. Dostal, Cambridge University Press; 1st edition , January 21, 2002, p.138

2- All we see can only disappear, Jérôme Sans interviews Qiu Zhijie, in China talks, interviews with 32 contemporary artists by Jérôme Sans, published by Time zone 8, 2009, p.58

3- Cynthia Freeland, But is it art? Oxford published 2001, p.112

4- Ibid.

5- Arthur C. Danto, After the End of Art, the pale of history, Princeton university press, princeton, New Jersey, 1997, p.42

6- “The third space", interview with Homi Bhabha, In Identity, Community, Culture, Difference, edited by Jonathan Rutheford, London: Lawrence and Wishart, 2003, p.210

7- Như Huy, Redefining the past and transforming public space: two new strategies of Vietnamese contemporary artists in the early years of new centuries, in Essays on Modern and contemporary vietnamese art, published by Singapore art museum, 2009, tr.92

Giới thiệu về dự án mới của Ga 0: Vẽ graffiti lên tường hẻm


Một phim ngắn về nhóm graffiti Click 9, do Ga 0 (www.zerostationvn.org) thực hiện

Vài suy nghĩ ngắn về sự diễn giải tha thể

Như mọi hình thái nghệ thuật có nguồn gốc phương Tây khác được du nhập vào Việt Nam, sự hiện diện của hình thức nghệ thuật graffiti cũng tạo ra nhiều ý kiến và cắt nghĩa trái chiều từ phía, không chỉ người dân sở tại, mà còn các nhà nghiên cứu văn hóa và nghệ thuật. Mang bản chất là một phong cách nghệ thuật có tính phản/phi định chế, và thuộc văn hóa ngoài luồng (subculture), cũng như thuộc văn hóa đô thị, khi xuất hiện tại một số xã hội có các chính sách văn hóa mang tính định chế cao như Việt Nam, nó thường được đọc và diễn giải theo hướng một thực hành phản kháng chính trị và xã hội, qua đó, chuyển tải các thông điệp ít nhiều mang tính hương xa văn hóa và chính trị đặt cơ sở trên một góc nhìn duy sử quan về sự phát triển xã hội theo mẫu hình phương Tây tại các quốc gia đang phát triển và thuộc thế giới thứ 3.Đây là một cách diễn giải không sai. Tuy nhiên, Chính cách diễn giải này cũng hàm chứa nhiều mối nguy. Mối nguy quan trọng nhất, theo tôi, là việc cách diễn giải kiểu này không đặt cơ sở trên một sự đối thoại mở, mà do đặt cơ sở chủ yếu của nó trên chính tiên kiến của kẻ diễn giải (về một mô hình phát triển trong vai trò là một hình mẫu tiên nghiệm), thế nên, rất nhiều khi nó đã bỏ qua các chân trời khả niệm khác có thể có từ phía cái được diễn giải.Nói cách khác, cách diễn giải này, bởi sư dễ dàng của nó khi hiểu người khác, sẽ luôn có nguy cơ đưa kẻ diễn giải vào một không gian hiểu có tính vị chủng, như trong một bài viết về triết học của Gadamer, giáo sư Charles taylor đã giải thích rất rõ:

“Bởi vấn đề của sự cám dỗ có tính vị chủng nằm ở chỗ nó sẽ giúp người ta hiểu rất nhanh kẻ lạ, ví dụ: hiểu kẻ ấy bằng các phạm trù của mình. Các chủng giống nhỏ bé hơn sẽ không sở hữu quy luật nào cả, bởi ở chúng chẳng có gì cho chúng ta nhận thấy như là quy luật. Và bước dẫn tới việc dán nhãn chúng là phi quy luật hoặc đặt chúng ra ngoài quy luật cũng dễ dàng như việc coi chúng là không hợp lệ và tùy thuộc vào số phận” (1)

Một ví dụ ở đây có thể thấy trong một bài phỏng vấn giữa giám tuyển Jérôme Sans với nghệ sỹ Trung Hoa Qiu Zhijie. Trong bài phỏng vấn đó, Qiu Zhijie đã đưa ra một quan điểm khác về Graffiti kiểu Trung Quốc:

“Đúng vậy. Tôi nhớ chúng ta có lần trò chuyện về graffiti. Thật sự là tôi đã suy nghĩ rất nhiều về nó bởi hiện graffiti đang có mặt rộng khắp tại các đô thị châu Âu, và thường xuyên bị coi là dạng thực hành bất hợp pháp. Tuy nhiên, tại Trung Hoa cổ đại, đã có một dạng Grafiti hợp pháp, đó là khi một thi sĩ hay một thư pháp gia đi tới một phong cảnh thiên nhiên đẹp đẽ nào đó và nếu khi ấy anh ta nẩy sinh cảm hứng, anh ta có thể viết một bài thơ lên vách đá hay các cây cột trụ ở đó. Chúng tôi chưa bao giờ coi hành vi này có tính phá hoại; trái lại, chúng tôi coi nó như điều gì thanh nhã và có giáo dục. Thậm chí chúng tôi còn cho khắc các tác phẩm tiêu biểu về thư pháp hay thi ca lên vách đá để lưu giữ chúng thành một bộ phận mãi mãi thuộc về thiên nhiên”.(2)

Lẽ dĩ nhiên, ở đây, không khó khăn gì để thấy cách đọc của Qiu Zhijie về graffiti cũng đối mặt các vấn đề giống y hệt với cách đọc trái ngược với nó – khi bằng cách đọc ấy, nghệ sĩ cũng đã triệt để phủ nhận chân trời của “tha thể”, để rồi quy tất cả vào chính tiên kiến hay khung khái niệm có sẵn của bản thân.

Như vậy, ở đây, điều chúng ta thấy rõ nhất sẽ là việc, tất cả các cách đọc về tha thể đặt cơ sở chỉ trên tiên kiến và khung khái niệm sẵn của kẻ đọc, bởi bản chất làm cho thế giới nghèo nàn đi, sẽ chỉ luôn dẫn đến tính bất khả niệm về thế giới.

Thực tế cho thấy rằng, ngay chính tại phương Tây, nơi thường được coi là chiếc nôi của nghệ thuật graffiti hiện đại, việc nhìn nhận nó hoặc là như một thực hành phản kháng xã hội, thuộc văn hóa ngoài luồng, hay việc nhìn nhận nó như một thực hành thường mại hóa, cũng là việc vẫn còn đang tranh cãi và chưa đi tới hồi kết.

Trong cuốn sách “Thế mà là nghệ thuật ư” của mình, khi viết về một số nghệ sĩ Graffiti nổi tiếng như Barry Mc Gee hay Jean Michael Basquiat, tức những nghệ sĩ được truyền thông Mỹ vẽ nên như những người hùng- từ khước hệ thống thương mại để sống cuộc đời du mục lang thang (có thể tham khảo thêm bộ phim về Jean Michael Basquiat của Julian Schnabel, trong đó, Jean Michael Basquiat xuất hiện như một nhân vật trong sáng, đẹp đẽ như một thiên thần, như một phản đề với thế giới nghệ thuật thương mại hóa), - chính Cynthie Freeland cũng đã phải công nhận rằng: “…như Jean Michael Basquiat và Barry Mc Gee chẳng hạn, những người này đã bị hệ thống thị trường thu nạp khi tác phẩm của họ trở nên khả mại” (3). Cynthia Freeland thậm chí còn, với chút giọng giễu cợt, viết rằng :

”Tác phẩm của ông (Barry Mc Gee) đã được trưng bày ở nhiều gallery từ San Fransisco tới Mineapolis hay São Paulo. Tôi phải thú nhận rằng đã nảy ra vài kế hoạch đen tối nhắm vào những ô cửa kính của gallery trưng bày tác phẩm của Mac Gee, vào chính lúc đọc catalogue triển lãm của ông, trong đó Mc Gee viết:” Đôi khi một hòn đã ném vỡ toang một cái đĩa hay chiếc ly có thể trở thành tác phẩm nghệ thuật hấp dẫn và tuyệt nhất mà tôi từng thấy” (4)

Graffiti tại Việt Nam

Một trong những chìa khóa để đọc về nghệ thuật Graffiti tại Việt Nam, theo tôi, chính là ở tính chất du nhập của nó. Xét về mặt văn hóa, khi một sự du nhập xảy ra, luôn luôn sẽ kèm theo đó một tiến trình tự động của loại thải và tiếp nhận. Vấn đề ở đây là, một thực kiện (fact) chỉ có thể trở nên một khoảnh khắc lịch sử khi và chỉ khi nó tìm được lý do tồn tại cho nó trong thực tại, có nghĩa rằng, khi và chỉ khi nó có được bảo chứng bằng sự chấp nhận hoàn toàn của cái văn cảnh nơi nó xuất hiện. Triết gia Arthur C. Danto từng phân tích một cách rất thú vị về mối quan hệ giữa văn cảnh và thực kiện này trong bài viết "Các đại tự sự và các nguyên tắc phê phán", ở đó, ông đã đặt giả thiết về các họa sĩ Trung Hoa vào đời Thanh “từng biết về phép viễn cận kiểu Phục Hưng thông qua họa sĩ và cha truyền giáo Castiglione, song không hề sử dụng phát minh quan trọng này của thời Phục Hưng, tức điều đã làm thay đổi hoàn toàn khuôn mặt của nghệ thuật phương Tây bởi họ cảm thấy trong truyền thống nghệ thuật của họ, không có chỗ cho phát minh về phép viễn cận đó" (5). Đây có lẽ là trường hợp tiêu biểu của việc một thực kiện đã không thể trở nên một khoảnh khắc lịch sử và đã bị loại thải triệt để.

Tuy nhiên, kể cả trong trường hợp một sự du nhập được tiếp nhận đi nữa, nó cũng sẽ phải trải qua một loạt màng lọc, để có thể được khả niệm trong một văn cảnh mới. Nói cách khác, sự du nhập ấy sẽ phải đi theo một tiến trình mà Homi Bhabha gọi là”thông dịch văn hóa”, tức sự thông dịch mà theo ông ”…là một phương cách mô phỏng, song trong một cảm thức chuyển vị, và vi phạm – theo một cách mà quyền tiên khởi của bản gốc không được củng cố mà sẽ bị sao chép, chuyển biến, chuyển hóa, và bị biến thành một bản thế vì, v.v., và v.v.” (6). Có nghĩa là ở đây, một sự du nhập, sau khi trải qua quá trình thông dịch, sẽ trở nên “một không gian thứ ba”, khác hẳn với bản gốc, và cũng khác hẳn với bản dịch (theo nghĩa mô phỏng chính xác), mà ở đó:”các quan điểm khác có thể xuất hiện”

Ví dụ cho trường hợp của sự thông dịch này có thể dẫn ra đây từ một dự án graffiti có tên là G.A.S (graffiti in art school). Đây là một dự án được thành lập vào năm 2007, do nghệ sỹ Phan Hải Bằng, giảng viên đồ họa khoa nghệ thuật ứng dụng trường đại học nghệ thuật Huế là trưởng nhóm. Trong chính bản tuyên bố thành lập dự án, Hải Bằng đã viết :”…sử dụng hình thái nghệ thuật graffiti như một công cụ, không phải để phản kháng xã hội, trái lại, để hòa hợp vào khung cảnh địa phương, để ứng xử văn hóa, kích thích sáng tạo với ý thức tôn trọng và bảo vệ cảnh quan thành phố…”(7). Một trong những dự án tiêu biểu của nhóm này là dự án “Vẽ mũ bảo hiểm” (từ 7 tháng 9 -15 tháng 11 năm 2007 ( tại Huế), và từ 23-31 tháng 9 năm 2009 (tại TP HCM). Vào khoảng nữa cuối năm 2007, chính phủ Việt nam chính thức yêu cầu toàn dân phải đội mụ bảo hiểm khi lưu thông bằng xe máy. Đây là một yêu cầu tưởng như rất khó thực hiện bởi nó động chạm tới rất nhiều thói quen sinh hoạt đã tồn tại từ rất lâu của người dân Việt Nam, trong đó có thói quen về thẩm mỹ, đó là việc: người dân rất khó chấp nhận việc phải đội mội chiếc mũ giống nhau qua đó đánh đồng mọi đặc điểm riêng tư vào một vẻ dạng tập thể ( không biết nỗi sợ này có phải di chứng từ một thời màtoàn dân phải ăn mặc và cư xử một kiểu giống nhau hay không? ). Các nghệ sỹ thuộc nhóm G.A.S. đã tổ chức dùng sơn xịt vẽ lên mũ bảo hiểm miễn phí cho người dân tại những địa điểm công cộng tại TP HCM và Huế. Người dân có thể nghĩ ra các motif trang trí, hay sử dụng một trong nhiều mẫu có sẵn của nhóm. Dự án này đã thu hút nhiều người tham gia và sự chú ý của truyền thông đại chúng Việt Nam.

Dự án: Vẽ Graffiti Lên Tường Hẻm

Trong dự án này, không gian Ga 0 sẽ kết hợp cùng nhóm graffiti Click 9, một trong nhiều nhóm graffiti của thành phố, tạo ra một dự án nghệ thuật sử dụng graffiti như công cụ để đánh thức sự tương tác thông qua nghệ thuật đối với những người dân sống ngay trong khu phố nơi Ga 0 đang đặt trụ sở.



Đây là một khu phố tiêu biểu giữa lòng đô thị Sài Gòn, với một sân rộng chiều chiều lũ trẻ chơi đùa và người lớn trò chuyện. các nghệ sĩ graffiti của nhóm Click 9 sẽ sử dụng chính bức tường của trụ sở Ga 0 trong vòng gần một tháng ( từ ngày 12 tháng Bẩy đến ngày mùng 7 tháng 8 năm 2011) để luân phiên vẽ các bức graffiti của họ lên đó. Chính trong gần một tháng này, các nghệ sĩ sẽ có dịp không chỉ vẽ graffiti và qua đó tạo sự sinh động về thị giác và nghệ thuật cho khu phố, mà họ còn có cơ hội trao đổi, tương tác trực tiếp cũng như hướng dẫn cho những cư dân muốn biết them về graffiti- trong vai trò một hình thái nghệ thuật- về hình thái nghệ thuật này thông qua việc đề nghị người dân tham gia vào quá trình vẽ cùng họ.

Trong gần một tháng, sẽ có rất nhiều bức graffiti được vẽ, xóa, và vẽ đè lên, qua đó, nhấn mạnh vào bản chất phù du của các thực hành nghệ thuật đường phố và phi định chế cũng như nhấn mạnh vào tính tiến trình của một dự án nghệ thuật công cộng không (chỉ) đặt cơ sở vào vật thể thẩm mỹ, và (còn) chủ yếu là vào tính quan hệ và tính mở ngỏ của đối thoại.

Nhìn từ góc độ của các suy nghĩ nơi các phần trên của bài viết về sự du nhập, sự loại thải, cách đọc đặt cơ sở trên tiên kiến và khung khái niệm có sẵn, phản lại cách đọc dựa trên sự đối thoại và thông dịch, ga 0 của chúng tôi coi dự án nghệ thuật này như thể một sự thử nghiệm của việc thông dịch, không chỉ nghệ thuật graffiti vào không gian văn hóa địa phương, mà qua sự xuất hiện luân phiên của các bức graffiti cỡ lớn trên bức tường của ga 0 trong khu dân cư, còn thông dịch chính không gian văn hóa địa phương vào nghệ thuật graffiti.

Chính qua sự thông dịch hai chiều này, chúng tôi hy vọng mở ra được một không gian thứ ba, tức không gian của sự đối thoại năng động, đa chiều và có tính tạo sinh

Giám đốc nghệ thuật ga 0
Như Huy
-------------------
1- Charles Taylor, Gadamer về Khoa Học Nhân Văn, in trong The cambridge companion to Gadamer, Robert J. Dostal biên tập, Cambridge University Press; 1st edition, January 21, 2002, tr. 138)

2- All we see can only disappear, Jérôme Sans phỏng vấn Qiu Zhijie, trong China talks, interviews with 32 contemporary artists, Jérôme Sans, Time zone 8 xuất bản năm 2009, tr.58

3- Cynthia Freeland, But is it art, Oxford University press, 2001, tr.112

4- nt.

5- Arthur C. Danto, After the End of Art, the pale of history, Princeton university press, princeton, New Jersey, 1997, tr.42

6- “The third space", interview with Homi Bhabha, trong Identity, Community, Culture, Difference, Jonathan Rutheford biên tập (London: Lawrence and Wishart, 2003, tr.210

7- Như Huy, Tái định nghĩa quá khứ và chuyển hóa không gian công cộng,: Hai chiến thuật mới của các nghệ sỹ đương đại Việt Nam trong những năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới” , trong” Essays on Modern and contemporary vietnamese art, published by Singapore art museum, 2009, tr.268