Hiển thị các bài đăng có nhãn chân dung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chân dung. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

Tựa vòng cánh cối xay còn quay ( lời việt ca khúc: The windmill of your mind)

(bản thu đặc biệt để tưởng nhớ chú Chu Trung Can ( tức dịch giả Chu Lan Đình)

Lời Việt: Như Huy
Người hát: Như Huy
Đệm piano: Nhạc sĩ Đức Trí




Quay,
Tựa một vòng tròn chầm chậm quay,
Tựa một chiếc bánh xe tròn xoay
Tựa một guồng sợi vàng rực tơ êm
Dù tận kiếp vẫn chưa ngừng quay
Tựa giọt sương xoay nhẹ đầu non xa
Tựa vành sáng những chiếc dù hoa
Tựa nhịp nôi êm đềm tuổi ngây thơ
Tròn trịa giống dáng trăng ngày xưa
Tựa một kim giây đồng hồ vô tư
Đều đều đếm tháng năm dần qua
Tựa giọt lệ vẫn thầm lặng nghiêng rơi
Là quả đất có em và tôi
Tựa vòng cánh cối xay còn quay
Tận vùng ký ức xa tầm tay


Tựa hầm mộ đưa người vào mê cung
Một lần lỡ bước không đường ra
Hầm mộ sâu trong lòng đồng hoang vu
Mặt trời vĩnh viễn chưa hề soi
Tựa vòng quay cánh cửa vào cơn mơ
Chầm chậm mãi mãi không ngừng xoay
Tựa hồn nhiên cánh diều tuổi thơ ngây
Còn liệng mãi tít cao trời mây
Tựa một kim giây đồng hồ vô tư
Đều đều đếm tháng năm dần qua
Tựa giọt lệ vẫn thầm lặng nghiêng rơi
Là quả đất có em và tôi
Tựa vòng cánh cối xay còn quay
Tận vùng ký ức xa tầm tay

Lời chợt vang lên từ nguồn tâm tư
Thoảng nhẹ bên tai tựa cơn gió
Mùa hè xưa qua rồi còn nuối tiếc
Lời tình xưa vẫn còn tha thiết
Người tình xưa vẫn còn dựa vai nhau
Vẫn bước tiếp những dấu chân ngày xưa
Lòng bàn tay gõ nhịp vào hư vô
Tựa nhịp trống tiễn đưa mùa thu
Thềm nhà xưa vẫn như đợi ai
Và rời rạc lời bài hát cũ
Còn lại đây bao khuôn mặt quen thân
Mà tuổi tên đã vùi trí nhớ
Ngày mình nghe cuộc đời chợt xa xôi
Ngày mình biết tháng năm dần trôi
Biết lá thu rơi vàng trên tóc rối
Biết nỗi đau có bao giờ nguôi

Tựa một vòng tròn chầm chậm quay,
Tựa một chiếc bánh xe tròn xoay
Tựa một guồng sợi vàng rực tơ êm
Dù tận kiếp vẫn chưa ngừng quay
Tựa hình bóng cũ đang chìm khuất
Tựa vòng cánh cối xay còn quay
Tận vùng ký ức xa tầm tay


Lời Việt © Như Huy 2011

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2012

Nhớ chú Chu Trung Can


Chụp cùng chú Chu Trung Can tại nhà của Lê Quảng Hà


Cũng không nhớ rõ lắm, hình như tôi quen chú Chu Trung Can qua bác An Chi thì phải. Gọi là quen qua vậy thôi, nhưng thật ra chúng tôi cùng biết nhau trên Facebook. Tôi chỉ nhớ có lần chú Can nhắn vào inbox của tôi rằng chú vừa vào Sài Gòn, muốn rủ tôi đi coffe, mà lần đó tôi lại đang ở nước ngoài. Tuy nhiên tôi đã được gặp chú ngay sau đó, khi tôi ra Hà Nội và tìm tới chú

Theo tôi, chú Can là một con người rất hóm hỉnh, sự hóm hỉnh của một con người đã đủ từng trải và tri thức để hiểu rằng nếu đã là sự thật -một sự thật đúng nghĩa là sự thật, và do đó luôn là một dị bản của tình yêu thương và sự thấu hiểu- thì nó ( sự thật ấy) sẽ phải luôn-biết-mỉm-cười.

Chú Can, với tôi còn là một quý ông ( gentleman) đúng nghĩa- theo nghĩa một con người luôn muốn-thấy-mình-thanh-lịch. Tôi muốn dùng chữ Muốn-thấy-mình-thanh-lịch, chứ không phải chữ thanh lịch thông thường bởi, theo tôi, trên hậu cảnh của một Hà Nội, của một Việt Nam đang ở thời kì xuống cấp về mọi mặt –sự thanh lịch mà tôi cảm thấy từ chú Can đã không chỉ còn là một sự thanh lịch theo kiểu bề mặt - mà là một sự thanh lịch theo nghĩa một thái độ, một hành vi phản ứng, một tỏ bày hơn là một điều gì đó vô thức. Hay nói đúng hơn, sự thanh lịch tôi cảm thấy ở chú Can chính là một điều gì đó ( dĩ nhiên là luôn bản năng, tự nhiên song), đã được ý thức nhận diện và kiên quyết duy trì thành một thái-độ-sống. Chính vì thế phía sau sự thanh lịch kiểu này của chú, tôi tin rằng chúng ta luôn tìm thấy một chiều-sâu-hồn-hậu của tình người, và do đó, nó khác hoàn toàn với mọi kiểu thanh lịch bề mặt, mà dị bản cực đoan của chúng chỉ là các thái độ khách sáo, mầu mè rườm rà.

Chính ở góc độ này, tôi thấy ở chú có phảng phất đôi nét gì đó với bác Cao Xuân Hạo, cũng là một người thầy của tôi. Và tôi đã không hề ngạc nhiên khi nghe chú Can kể trước đây chú và bác Hạo cũng chơi với nhau và rất quý nhau, vào thời bác Hạo còn sống ở Hà Nội.

Cuộc gặp gỡ đầu tiên của chúng tôi diễn ra trong vòng…20 tiếng, chia làm ba đợt. Đợt đầu là coffe sáng tại Viet Art Center, đợt hai là rượu buổi chiều tại nhà hoạ sĩ Lê Quảng Hà, và đợt ba là cữ rượu đêm tại chính quán Bar của hoạ sĩ Lê Quảng Hà – Factory, với món gà nướng do chủ quán đãi. Có bao-nhiêu-những-chuyện-gì để mà có thể nói và ngồi bên nhau lâu đến thế? Thú thực là chẳng có chuyện gì cả. Chỉ toàn chuyện đùa mà thôi. Thật ra, ngồi bên những người như chú Can, như đã có lần tôi nghĩ về việc ở bên thầy Hạo, hay bên bác An Chi, v.v., những người trẻ tuổi hơn như chúng tôi dường như cảm thấy một sự hạnh phúc lớn lao của việc được chứng kiến những con người mà sau khi họ trải qua cả một chặng dài trong những thời kì “Chỉ toàn những lời nói thô lỗ vì ngu dốt/Những vầng trán phẳng lì vì không thể cảm thụ/Có kẻ đang cười đâu đó - thì chỉ vì chưa nhận được tin dữ mà thôi” (“Gửi những kẻ sinh sau”, thơ Bertolt Brecht, Như Huy dịch) – lương thức và lương tâm của họ vẫn không hề suy suyển. Chính ở đây, họ đã như thể trở thành những tấm gương cho chúng tôi – khi chúng tôi chợt nhìn lại thời kì mình đang sống và giật mình thấy ra rằng, hoá ra cũng chẳng hơn gì thời kì mà họ từng đã trải qua.

Sau lần ấy, với tôi, chú Can đã như một người thân, người anh, người chú. Mỗi lần ra Hà Nội,tôi đều đến chơi với chú.

Với tôi, chú Can đã thành một địa chỉ, một chốn-về.

Lần cuối cùng tôi gặp chú Can là vào trước ngày chú mất một ngày. Tôi đến thăm chú với em Lang Minh. Cũng như mọi khi,câu chuyện của chú là về sách, về tri thức, về ngôn ngữ, về dịch thuật, một câu chuyện luôn có kèm theo những nụ-cười-nheo-mắt quen thuộc không lẫn đi đâu của chú. Hôm đó chú có khoe rằng hiện chú đang học tiếng Tây Ban Nha, và doạ tôi rằng chỉ tới cuối năm là chú có thể đọc Wittgenstein bằng tiếng Tây Ban Nha^^

Câu chuyện giữa chú và chúng tôi trong buổi nói chuyện cuối cùng này dẫn tới cách dịch và hiểu chữ Participation. Thường chúng ta dịch và hiểu chữ này như là sự tham dự/ tham gia. Tuy nhiên theo chú dịch/hiểu như vậy chưa hoàn toàn đến đáy nghĩa, vì tham dự và tham gia thường được hiểu theo nghĩa phải có gì đó trước rồi, thì người ta mới tham dự và tham gia vào được. Participation- tiếng Anh, với từ gốc là (partake of/in) theo chú phải hiểu như là một sự dự phần vào một cái gì đó mà trước đó chưa có, và chỉ sau khi mọi người cùng dự phần vào, thì cái gì đó mới hình thành. Chú cho biết có một chữ khác trong Từ Điển và Danh Từ Triết Học của Trần Văn Hiến Minh( Tủ-Sách-Ra-Khơi, Saigon 1966), mà theo chú đã dịch/hiểu chữ participation tốt hơn – đó là chữ “thông phần”



Chỉ ngay hôm sau cuộc nói chuyện này, vào lúc 6 giờ chiều mùng 8 tháng 1, 2012, tôi bàng hoàng nhận được cú điện thoại của em Lang Minh, một người em gần gũi nhất với chú trong chúng tôi, cho biết trước đó một giờ chú đã đột ngột ra đi



Mấy hôm nay, tôi cứ nghĩ mãi, câu chuyện cuối cùng giữa chúng tôi về chữ participation có phải là một dạng điềm báo trước? Phải chăng giờ đây chú Chu Trung Can yêu quý của chúng tôi cũng đã dự phần vào một thế giới mà ở đó trước chú, những người khác như bác Cao Xuân Hạo chẳng hạn, cũng đã dự phần ( theo nghĩa cùng nhau, bằng sự dự phần của mỗi người-, tạo nên thế giới ấy) ? Một thế giới dành riêng cho các quý ông, cho những con-người-biết-cười, một thế giới bình yên, xứng đáng và đẹp đẽ hơn nhiều cái thế giới dưới này của chúng tôi.




Để kết vài dòng nhỏ bé này, tôi xin phép chú Can được đăng lại một note của chú ( nguồn: https://www.facebook.com/note.php?note_id=127648737287115)


….

Bằng vào lương thức thông thường, ta thấy mình là một sinh thể tuyệt vời biết mấy, và cũng với lương thức ấy, ta thấy mình nhỏ bé và với số lượng ít ỏi biết nhường nào so với cái vũ trụ – cả vĩ mô lẫm vi mô – mà ta sống trong đó. Cô đơn đến vậy sao? Không hề! Chúng ta hẳn phải có vô số bạn bè khắp trong vũ trụ bao la. Vì nếu có một đấng sáng tạo như Chúa hay các chư thần tối cao của nhiều tôn giáo khác, hay chính vũ trụ tự thân đã tạo nên vũ trụ này thì kẻ toàn năng ấy không thể nào “lãng phí không gian” đến như vậy được. Chỉ là chúng ta chưa có cơ may gặp được bạn bè, trong đó có thể có những bạn bè ngay cạnh ta thôi, đang vui vầy khắp nẻo đường vũ trụ, hoặc giả vũ trụ chỉ là cái gì đó thật bé nhỏ, và ta chính là vũ trụ, hoặc giả chúng ta hiện chỉ là những quả trứng đã giao hoan với tinh trùng đang còn nằm trong bào thai kín bưng để đợi một ngày kia cất tiếng chào đới, có thể đó là ngày mà chúng ta “chết” đi, vui vầy cùng bạn hữu, ngày chào đời kinh sợ biết bao mà cũng đẹp biết bao”




Như Huy, 10.1.2012

Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2011

Vài kỷ niệm nhỏ với thầy Tuệ Sỹ ( bài cũ)


Thầy Tuệ Sỹ đang chơi đàn

Người dắt tôi tới thăm thầy Tuệ Sỹ lần đầu tiên là nhà văn Nguyễn Đạt. Đó là thời điểm vào năm khoảng 2005 ( tôi không chắc lắm về thời gian, chỉ nhớ khi ấy, thầy Tuệ Sỹ vẫn còn bị quản thúc tại chùa Già Lam). Tôi để ý, khi tôi và Nguyễn Đạt bước vào cửa chùa, ở phía trước cổng luôn có khoảng 4, 5 thanh niên ngồi café đọc báo. Nguyễn Đạt bảo tôi, kệ, cứ vào đi, gửi xe ở đấy. Thế là chúng tôi đi vào.

Thầy Tuệ Sỹ ở tít phía trong chùa, trong một căn gác nhỏ có hai buồng đơn sơ, phía ngoài là một balcony nhìn xuống khoảng sân dưới-một khu vườn nhỏ sau chùa. Trong khu vườn ấy, tôi nhớ, có một hai cây cổ thụ lớn tỏa bóng xuống cái balcony – là nơi thầy Tuệ Sỹ tiếp khách.


Nơi thầy Tiếp khách

Bất cứ khi nào có khách, thầy Tuệ Sỹ, dù đang làm việc gì, ăn uống chẳng hạn, luôn dẹp ngay lại các việc đang làm để đón khách. Nhân đây, tôi thấy phục vụ cho thầy là một Phật Tử cũng đã trọng tuổi – có khuôn mặt rất khiêm nhường ( mà sau này, tôi thấy rất giống - ở cái dáng vẻ tinh thần – với cậu thư ký của ông Bùi Văn Nam Sơn, người mà ông nói vui là” tôn giả Anan của ông", và là người, cũng theo ông " thuộc làu-có thể đọc xuôi đọc ngược mấy cuốn Phê Phán Lý Tính Thuần Túy, Phê Phán Năng Lực phán Đoán, Phê Phán Lý Tính Thực hành, hay một hai cuốn khác của Hegel" mà ông Bùi Văn Nam Sơn dịch).

Ấn tượng thứ nhất tôi thấy ở thầy Tuệ Sỹ là đôi mắt cực sáng, và bởi vẻ gầy gò của thầy, cái hốc mắt sâu còn làm cho đôi đồng tử sáng rực ấy càng lộ ra thêm- thật sự là tôi có một so sánh cái khuôn mặt xương xẩu ấy, với đôi mắt sáng rực ấy với khuôn mặt xương xẩu và đôi mắt sáng rực của Hồ Chí Minh- trong một bức ảnh khi đang đọc diễn văn ở Liên Xô thì phải ( tôi không nhớ rõ lắm). Cũng xin lỗi những ai cảm thấy khó chịu về lối so sánh này – nhưng quả thật, về mặt hình dáng, với tôi, chúng giống đến nỗi không thể không nói ra

Ấn tượng thứ hai của tôi về thầy Tuệ Sỹ là cái cười của thầy. Nói thật sự, tôi ít khi thấy ai có một cái cười hiền lành như thế. Đó là 1 cái cười, không hề rạng rỡ, tỏa chiếu ra ngoài mà là một cái cười quấn quít vào trong, với giọng cười khẽ nức lên từ trong tâm, hơi e thẹn thì phải-theo kiểu hai cậu học trò ngoan khoảng trên dưới 10 tuổi đang đùa nhau điều gì và rất lấy làm thích thú. Đó là một cái cười-hẳn nếu ai có máu diễn giải, sẽ nói là, thoát tục lụy, hay nhi hóa. Một cái cười làm cho người đối diện thấy nhẹ lòng và vui lây lập tức – cái cười sảng khoái của một kẻ có máu buồn mà chỉ ai cù nhẹ đã rúc rích cười nấc và làm cho mọi người cảm thấy an toàn- không phải sự an toàn như kiểu người ta thường nói về nụ cười an nhiên vĩnh cửu của Đức Phật, hay nụ cười lĩnh hội rạng rỡ hạnh phúc của Kasipa- đều ít nhiều có tính giáo dục, mà là một kiểu cười hồn nhiên như lá rụng trước gió, như gió thoảng qua mặt hồ nước và làm rung tỏa lên các gợn sóng nhẹ và hiền. Nếu cứ liên hệ với những năm ở trong tủ và một lệnh tử hình được xóa vào phút cuối, cái cười này thật là lạ lùng (hay không lạ lùng chi hết? )

Có một lần, chúng tôi tới đó cùng một chàng thi sỹ trẻ, – thuộc lứa @, theo cách đặt tên của nữ sỹ ^^Phan Huyền Thư [thì phải?] . Khi đến chơi, tôi mau mắn giới thiệu, hôm nay đưa hai thế hệ đến gặp nhau, thế hệ @ và thế hệ lưng còng, thầy Tuệ Sỹ cười, và chỉnh luôn, "thế hệ @ và thế hệ “chân còng” chứ nhỉ". Phải mất vài giây sau tôi mới nhận ra cái ẩn ý vui đấy của Thầy.

Một lần khác, đến chơi, nói chuyện về âm nhạc, thầy có 1 ý kiến ( nếu tôi nhớ không nhầm), là so với Beethoven, thì Chopin nghe không vào mấy, và nhạc Beethoven, nhất là mấy chục Sonatas cho Piano viết về cuối đời mới là những thứ tinh túy, bản thân thầy cũng chơi rất tốt bản Sonata Ánh Trăng của Bethooven. Mà thầy kể nhiều khi phải tập chay-không có đàn, nên phải vẽ phím ra rồi tập. Sau này tôi cũng đã tặng thầy 1 bộ CD của Ashkenazy, chơi toàn bộ các Sonatas của Beethoven – cũng hơi tiếc vì vào thời điểm đó, đĩa gốc ở nhà tôi chỉ có bộ đĩa đó của Ashkenazy, mà tôi thì không muốn tặng thầy đĩa chép. Đáng tiếc là bởi theo tôi, với các Sonatas của Beethoven, Ashkenazy chưa phải là người chơi chơi thỏa mãn nhất

Một lần nữa, tới chơi với thầy, anh Nguyễn Đạt dắt theo một cậu con trai. Cậu này nhỏ, khoảng 17, 18, học về IT, mà theo anh Nguyễn Đạt, có nhiều tư duy rất lạ. Và không phải chờ lâu, ngay trong buổi nói chuyện uống trà đó, cậu ấy đã chứng tỏ cho chúng tôi cái tư duy lạ của cậu ấy bằng việc hỏi thầy Tuệ Sỹ 2 câu, câu thứ nhất” Thầy có tin vào Phật không? “, và câu thứ hai “ Có lẽ Phật cũng không rõ hẳn về những điều ngài nói” ( hay câu gì đại loại thế - thắc mắc về một vấn đề gì kiểu bất khả tư nghì của Đức Phật). Khi nghe hai câu hỏi ấy, tôi nhìn sang thầy Tuệ Sỹ, lúc đó đang ngồi phía bên kia, tựa vào cái lan can, thấy thầy chăm chú nghe, và có vẻ không hiểu tôi nhìn có đúng không, cứ co lại như kiểu tránh tránh một cái gì mạnh mẽ, hay môt tiếng ồn quá to. Sau đó, thầy trả lời, với vẻ rất chăm chú, cân nhắc và nghiêm túc, là: " bảo tôi có tin không, thì tôi tin đấy, thế nhưng đòi hỏi chứng minh thì tôi không chứng minh được. lẽ dĩ nhiên nếu người hỏi là một người khác, chẳng hạn một bà già trầu phật Tử, hỏi với cái tâm muốn biết thực sự, với băn khoăn thật sự, thì tôi trả lời ngay được, nhưng anh hỏi thế, thì tôi cũng cố gắng trả lời được thế thôi, tin thì tôi tin, nhưng mà nếu anh bắt chứng minh thì tôi không chứng minh cho anh được”. Còn câu hỏi thứ hai, thầy bảo, đại loại," thật ra thì, bản thân chúng ta, cũng chả nên phán xét Đức Phật thấu hiểu hay không thấu hiểu điều gì, bởi lẽ, ngài như thể đại bàng vậy, còn chúng ta là chim sẽ, thế nên rất khó để dùng trí tuệ chim sẽ để đoán định nổi đường bay của đại bàng”

Hồi đó, cứ thỉnh thoảng chúng tôi lại xuống chơi, nói đủ thứ chuyện, chuyện về Nguyễn Đức Sơn, chuyện về Bùi Giáng, có lần, tôi kể thầy nghe, câu thơ đầu tiên tôi đọc của Bùi Giáng làm tôi đã bị chinh phục ngay ( tôi nhớ tôi đọc trên kiến thức ngày nay thì phải, rất lâu rồi), thầy hỏi câu nào, tôi bảo câu: “ Hồn phố thị cũng xa bay như gió/Cộ xe nhiều cũng nhảy bổng như hươu/bờ cõi dựng xuân xanh em còn đó/Lối đào nguyên anh khoác áo khinh cừu”. thế là thầy cười và bảo, đấy cũng là một trong những câu thơ của Bùi Giáng thầy thích nhất.

Sau đận ấy, hình như tôi cũng đi nước ngoài vài tháng, rồi khi về SG, cũng không mấy có dịp xuống thăm thầy, cũng nghe nói thầy đã hết bị quản thúc. Cũng có lần tôi gọi điện cho anh Nguyễn Đạt định rủ anh tới thăm thầy, thế nhưng rồi cả hai anh em đều bận – nói theo ngôn ngữ nhà phật là duyên chưa tụ. Bản thân tôi, về mặt một người vẽ, thấy khuôn mặt thầy mà vẽ chân dung sẽ rất đẹp, và cũng định khi nào có dịp và đủ duyên, xuống vẽ thầy, ấy vậy mà cũng chưa có khi nào cả. Cái entry này có lẽ -nói theo ngôn ngữ Blog, là xếp gạch – để rồi trong tương lai, nếu khi nào tâm bình bình một chút, lại xuống thầy chơi, và nếu may mắn, sẽ vẽ một(vài) bức chân dung thầy





N.H.