Hiển thị các bài đăng có nhãn bình luận nghệ thuật của Như Huy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bình luận nghệ thuật của Như Huy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

Bài viết cũ (2006)|Vài nhận định rời về triển lãm “MAGMA|không cần dỗ giấc” của Sue Hajdu

Như Huy


1. Quá độ

“Quá độ” là một trạng thái nằm ở quãng giữa hai trạng thái cũ và mới, là một khu vực - bởi tình trạng trung chuyển chưa định nghĩa xong của nó, bởi mô hình loãng động liên tục không thuộc hẳn về phía nào của nó - luôn lạ lùng nhất, hấp dẫn nhất và nhiều tiềm năng nhất. Tuy nhiên, mô hình của trạng thái quá độ này, bất chấp sự mở ra của nó về phía chưa biết, và vì lẽ đó, làm cho nó có vẻ dạng tương tự với mô hình của tình huống hiện sinh theo kiểu Sartre - lại rất khác với tình huống hiện sinh ấy.

Trong trường hợp mô hình hiện sinh kiểu Sartre - một mô hình đặt nền tảng trên tiền đề “Hiện hữu có trước yếu tính” (l’éxistence précède l’essence) - tình huống hiện sinh nẩy ra khi chủ thể hiện sinh ý thức về tồn tại của bản thân vượt lên định mệnh và kinh nghiệm cũ, do đó, nó cũng ý thức luôn được sự tự do tuyệt đối trong thao tác dấn thân về phía chưa biết để tạo nên yếu tính cho bản thân.

Xuất phát điểm của chủ thể hiện sinh kiểu Sartre luôn là hiện tại, và sau mỗi dấn thân của chủ thể ấy vào tương lai (trong thao tác tự nhận diện và sáng tạo nên bản thân), sẽ lại có thêm một hiện tại mới tiếp tục được mở ra. Ở đây, quá khứ, do không hề cung cấp được bất kỳ chất liệu nào có khả năng làm thay đổi quyết định và hành vi của chủ thể, dường như đã không hề tồn tại. Nói cách khác, với chủ thể hiện sinh, hành vi tạo ra những hiên tại mới cũng chính là hành vi đoạn tuyệt với kinh nghiệm và quá khứ.

Trái với tình huống hiện sinh kiểu Sartre, trạng thái quá độ được đề cập ở đây, dù cho về bản chất là một trạng thái tiềm tàng luôn mở ra với tương lai, lại không hề cắt đứt mối liên hệ của chính nó với quá khứ. Trạng thái này không hề được xây dựng trên nền tảng của thế đứng xây lưng lại với quá khứ, mà tiền đề của nó lại nằm ở ngay chính sự nguyên hợp của nó cả với quá khứ lẫn tương lai, giữa cái đã biết lẫn cái chưa biết.

Không chỉ là một hiện tại thông thường, do khả năng lưỡng lai của chính trạng thái ấy vào cả quá khứ và tương lai, trạng thái này đã trở nên một kiểu dạng siêu hiện tại, nơi mọi khả năng đều bị cường điệu và thái quá, mọi ranh giới đều bị nhòe mờ.

Mọi chọn lựa của chủ thể trong trạng thái này đều là những chọn lựa thuộc về hiện tại – tuy nhiên, đó không phải là thứ hiện tại theo mô hình hiện sinh được cướp đoạt lại từ tương lai qua hành vi dấn thân vào phía chưa biết của chủ thể, mà là thứ hiện tại lẫn lộn, loãng động, bao quây chủ thể lại trong một không gian mờ ảo nhập nhằng của vô số khả thể và căn tính.

Ở đây, trong môi trường “siêu hiện tại” này, quá khứ, y hệt như tương lai vậy, cũng chỉ là một trong những khả năng lựa chọn của chủ thể mà thôi.

Tôi muốn dùng chính mô hình của trạng thái quá độ này làm một trong những vật chuẩn để từ đó đối chiếu vào tác phẩm Magma, không cần dỗ giấc (Magma, we’re not counting sheep) của nghệ sĩ thị giác Úc, Sue Hajdu, diễn ra tại Gallery Quỳnh, 23 Lý Tự Trọng, Q.1, từ 26 tháng Tư tới 07 tháng năm, 2006.

Magma|không cần dỗ giấc

Trong không gian kín khoảng 8 mét vuông được quây lại trong gallery, tràn ngập một mầu đỏ nhức nhối của vải dạ (thứ vải thường dùng làm phông màn sân khấu hoặc dùng để bọc các hộp đựng trang sức) được phủ bọc kín khắp ba vách tường, bên những chiếc đệm và gối đỏ, dưới ánh lấp lánh của những chiếc đèn hình quả bóng nhiều cỡ to nhỏ khác nhau được ghép bằng nhiều mảnh kính nhỏ phản chiếu ánh sáng (thứ bóng đèn ta thường thấy ở các vũ trường hay các dạ hội) cùng những vật trang trí hình thù kỳ lạ được đính kim tuyến lung linh (thứ kim tuyến dùng để may trang sức dạ hội hay biểu diễn) treo trên trần nhà (là một tấm phông kết bằng 8 ngàn đóa hồng nhỏ bằng vải đỏ), nghệ sĩ Sue Hajdu và một bạn diễn khác (Quỳnh Phạm, chủ nhân của gallery Quỳnh, là nơi thực hiện cuộc trình diễn và sắp đặt) được trang điểm một cách cường điệu với phục sức mầu đỏ thắm (bộ quần áo được thiết kế riêng cho những người trình diễn bao gồm áo ngắn, quần đùi, cùng bộ xà cạp theo kiểu Hồng Vệ binh Trung Hoa), nằm ngủ trong tiếng nhạc êm dịu, trước sự chứng kiến và bình phẩm của đám đông hiếu kỳ ở bên ngoài (có lúc lên tới gần 400 người trong khoảng thời gian một giờ), những người bị ngăn cách với hai kẻ trình diễn bên trong gallery bằng một lớp tường kính trong, xoay ra phía mặt đường.




Điểm đặc biệt của tác phẩm này là cuộc trình diễn, sau ngày đầu tiên được khởi đầu bởi Sue Hajdu và bạn diễn, bắt đầu từ ngày thứ hai trở đi, sẽ được chuyển vai cho những người tham dự từ các ngành nghề khác nhau, như nghệ sĩ, nhiếp ảnh gia, nội trợ, với các quốc tịch khác nhau, như người Việt hoặc người nước ngoài, các lứa tuổi khác nhau, sinh viên, trung niên, các giới tính khác nhau, nam, nữ, các mối quan hệ khác nhau, vợ chồng, bạn bè, họ hàng, cha con, v.v…

Yêu cầu thứ nhất của vở trình diễn này là, số lượng người trình diễn phải từ 2 người trở lên, và trong suốt quá trình trình diễn, những người trình diễn không được phép nói chuyện với nhau. Yêu cầu thứ hai là những người tham gia trình diễn bắt buộc phải nhắm mắt suốt đêm, cho dù họ có ngủ được hay không.

2.Môi trường quá độ

Thành tố chủ yếu tạo nên tác phẩm này của Sue Hajdu chính là mầu đỏ nhức nhối chi phối toàn bộ không gian tác phẩm. Mầu đỏ ấy phủ lên, từ các vật thể (chăn gối nằm, vách tường, trần nhà, quần áo), con người (với khuôn mặt được trang điểm cường điệu đỏ rực), cho tới âm nhạc (không kể tới âm nhạc thánh thót vang suốt đêm trong căn phòng đỏ, thậm chí, vào ngày khai mạc, hai chàng trai thực hiện việc chỉnh nhạc cũng diện hai chiếc T-shirt đỏ rực). Mầu đỏ này thậm chí còn được khuếch đại thêm lên bởi các chi tiết kim tuyến trên các hình thù trang trí và những mảnh kính nhỏ dát trên các quả bóng nhiều cỡ treo trên trần nhà.

Có thể nói, việc lựa chọn mầu đỏ làm thành tố chủ đạo cho tác phẩm của Sue Hajdu hoàn toàn không hề ngẫu nhiên.

Trong cuốn Mầu sắc và ý nghĩa, nghệ thuật, khoa học và biểu tượng của John Gage (1), có một đọan rất thú vị phân tích về mầu đỏ, xin được trích dẫn ra đây:

" Mầu đỏ là một trong những mầu sắc hiếm hoi có thể tạo ra các hồi phản mang tính biểu tượng. Lý do cho điều này là bởi, trong hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, “đỏ” (red) từng được coi như một mầu sắc đệ nhất (par excellence) của máu sống. Khái niệm “đỏ” (red, rouge, rot hay roso) được phái sinh từ chữ Sankrit “rdhirà” - có nghĩa là “máu”. Trong ngôn ngữ Inca, Aymara, từ đồng nghĩa với Grana (tiếng Tây Ban Nha là: Crimson), ngoài puca, còn là vila, một khái niệm hàm chỉ “máu”. Sáhagun còn đưa vào bộ bách khoa toàn thư của ông một lời thuật lại của dân Aztec về một niềm tin rộng rãi rằng “đá huyết dụ” (bloodstone, eztetl) có thể được sử dụng trong một tiến trình ma thuật giúp cầm máu kinh nguyệt hoặc các vết thương khác"

Việc mầu đỏ, qua đoạn trích trên, có liên qua tới máu và ma thuật, và bởi thế có thể gây ra các hồi phản mang tính biểu tựơng cao, theo tôi, chính là một trong những lý do chủ yếu thúc đẩy Sue Hajdu chọn nó làm thành tố chủ đạo cho tác phẩm của cô.



Và ngay tại đây, dường như chúng ta tìm thấy mối liên quan nào đó giữa môi trường của nghệ thuật trình diễn – nơi mà theo triết gia, phê bình gia nghệ thuật Arthur C. Danto, là “điểm giữa của sân khấu và hắc ma thuật” [2] - và trạng thái quá độ siêu hiện tại được nói tới ở phần đầu bài viết này.

Quả vậy, dường như đã có một sự tương liên nào đó giữa các môi trường hắc ma thuật, nơi sở hữu quyền năng chuyển hóa mọi vật thể và trạng thái và môi trường siêu hiện tại thấm đẫm sắc đỏ do Sue Hajdu tạo ra. Trong môi trường siêu hiện tại này của Sue Hajdu, dưới áp lực mang tính áp chế của một sắc đỏ tối đa, các đồ vật và con người, không còn nghi ngờ gì nữa, đã bị buộc phải ngưng đọng lại trong một trạng thái nguyên hợp phi thời lạ lùng. Ở đó, hiện tại, quá khứ và tương lai giằng co với nhau để rồi tạo ra những ảo ảnh xộc xệch và nghịch dị. Ở đó các khuôn mặt đã không còn nguyên vẹn là những địa chỉ đáng tin cậy của căn tính cá nhân nữa, mà do bị chi phối bởi sắc đỏ của phấn dồi đậm, của son tía, giờ đây đã trở nên những mô hình phi căn tính hàng loạt theo kiểu búp bê Barbie. Ở đó, thậm chí hành vi ngủ, một trong những hành vi mang tính riêng tư tuyệt đối nhất, cũng đã không còn nguyên vẹn nữa, bởi chịu sự xâm phạm công khai của hàng trăm ánh mắt soi mói từ bên ngoài. Ở đó sự đồng bộ và thống nhất về mặt trang phục – là thành tố quan trọng thể hiện trạng thái, văn hóa và thời đại của người mặc trong xã hội hiện đại – đã bị phá vỡ bởi tình trạng nguyên hợp lạ lùng của chiếc quần cộc đơn giản (dạng đồ mặc trong nhà) và chiếc áo thiết kế cầu kỳ (dạng đồ mặc dạo phố). Ở đó, thậm chí ngay cả trạng thái thuần khiết của thân thể con người cũng không còn nguyên vẹn bởi hoàn cảnh mới của chúng trong tình thế của những hàng hóa sặc sỡ và loè loẹt bày trong tủ kiếng sáng đèn nhằm thu hút sự chú ý và khao khát của khách hàng.

Tuy nhiên, không chỉ trong môi trường kiểu hắc ma thuật của Arthur C. Danto, nơi “các nghệ sĩ tìm cách xóa nhòa biên giới giữa nghệ thuật và cuộc đời, nơi họ bước ra ngoài hình ảnh của mình để tham gia vào chung không gian với công chúng” (3) , hay trong môi trường trình diễn siêu hiện tại của Sue Hajdu, nơi nhờ vào việc sử dụng sắc đỏ như một chất cường toan cực mạnh để pha loãng và làm biến thái mọi thực thể thuần khiết, mới là quê hương của các dạng thực thể lưỡng lai, vô căn tính và phi thời. Còn một môi trường khác nữa, thậm chí còn có quyền lực siêu việt hơn trong thao tác pha loãng và trộn lẫn mọi thực thể vào nhau, trong khả năng tiêu diệt mọi cảm thức về căn tính cá nhân của con người để rồi đăng kết các cá nhân ấy vào một đam mê tập thể mang tính hệ thống.



Môi trường này - với phương Tây tư bản tân tự do – chính là môi trường của một xã hội tiêu dùng với các công cụ phục vụ cho nó như các siêu thị, credit card, thẻ ATM, các chương trình quảng cáo trên TV, các khu vui chơi giải trí tập trung như Disney Land, v.v…, nơi mà, theo Jean Baudrillard, “không hề có sự khác biệt giữa đồ ăn nhanh và gallery nghệ thuật, giữa tạp chí Playboy và các luận thuyết về cổ sinh vật học”(4).

Tuy nhiên, cũng môi trường này, trong khu vực các nước XHCN Đông Âu trước đây, lại là môi trường của một xã hội mang tính thiết chế bắt nguồn trên một cuộc chia sẻ tư tưởng khổng lồ. Tại đó, mọi căn tính cá nhân đều bị bắt buộc phải giải trừ và giảm thiểu để nhường chỗ cho một chủ nghĩa tập thể có tính chất cưỡng ép trong mọi khía cạnh và ngóc ngách của đời sống và tư duy.

Có lẽ chính ngay tại đây, chúng ta nhận ra chiều kích xã hội sắc nét trong tác phẩm của Sue Hajdu.

Dường như tất cả những thực thể lưỡng lai trong tác phẩm này của nghệ sĩ, nhìn một cách nào đó, đều là hình ảnh phản chiếu cuộc xung đột giữa ảo tưởng về một niềm tin theo kiểu tân tự do của một xã hội tiêu dùng: tin vào quyền tự do của mỗi cá thể, và ảo tưởng về một niềm tin bị chi phối bởi hệ tư tưởng mang tính tập thể: tin vào trạng thái bình quân của mọi giai cấp trong xã hội.

Phải chăng, chính thông qua những hiệu ứng nghịch dị và không kém phần hài hước trong cuộc kết hợp kỳ lạ của các chi tiết trang sức, trang phục và trang điểm trên thân thể và khuôn mặt người trình diễn, trong hình ảnh của những con người đang nằm ngủ ngon lành nơi chiếc lồng “son” lóng lánh và đẹp như ảo ảnh – đã là những bình chú thẳng thừng của nghệ sĩ vào tình trạng không lối thoát của con người trước tất cả những cạm bẫy của mọi hệ tư tưởng - những cạm bẫy do chính con người tạo ra và rốt cục luôn dẫn họ đến một tình trạng tha hóa về căn tính một cách không tự biết.

Ngay tại đây, tưởng cũng nên lưu ý một điểm rất thú vị về bản thân lai lịch của Sue Hajdu. Cha của cô là một nhiếp ảnh gia nghiệp dư Hungary, người đã từng chứng kiến và sở hữu một bộ ảnh về những sự kiện và cuộc can thiệp của quân đội Liên Xô vào Hungary vào năm 1956. Sue sinh ra, lớn lên và học tập tại Australia, một quốc gia tư bản, và hiện đang sinh sống và làm việc dài hạn tại Việt Nam, một quốc gia từng thuộc hệ thống XHCN và hiện đang tìm cách dung hợp hệ tư tưởng của nó vào môi trường thế giới toàn cầu, nơi mà không thể chối cãi, đang bị chi phối mạnh mẽ bởi mô hình của chủ nghĩa tư bản tân tự do.

Rõ ràng là, nhìn một cách nào đó, các dấu vết trong lai lịch và ký ức của Sue Hajdu đều đã được thể hiện rất rõ qua thực hành nghệ thuật của cô.

3. Chân dung cái Kitsch

Tuy nhiên, sắc đỏ, bất chấp sự liên đới của nó tới ma thuật, tới những hồi phản mang tính biểu tượng cao, còn mang theo một chức năng nữa, đó là chức năng của một dạng ký hiệu nông, phẳng, không hàm chỉ bất kỳ điều gì nhiều hơn bản thân. Một cách nào đó, ta có thể thấy chức năng này của mầu đỏ qua sự mô tả của Piet Mondrian vào cuối năm 1929 về ba mầu sắc cơ bản mà ông thường dùng. Mondrian nhận xét rằng:

"… mầu đỏ luôn mang đậm tính chất “thực" (real) hoặc “hướng ngoại"(outward), trong khi mầu xanh cô-ban và vàng lại có xu hướng “hướng nội” (inward) hoặc “tinh thần". (5)

Chính cái bản chất “hiện thực” và “hướng ngoại" ấy của mầu đỏ - từng được nhận ra bởi một trong những bậc thầy đầu tiên của nghệ thuật trừu tượng – đã làm cho nó - nhìn từ góc độ biểu tượng – liên quan tới một trong những hiện tượng lạ lùng nhất, xưa nhất và khó định nghĩa nhất của văn hóa, hiện tượng được những người Đức đặt cho cái tên là “Kitsch" (cái rởm) (6).



Theo phân tích của Clement Greenberg, Kitsch là một hiện tượng xuất hiện ngay khoảnh khắc giao thời của xã hội phương Tây, khi đám dân tân thành thị đông đúc (bị dồn ra thành phố do tiến trình đô thị hóa nông thôn và công nghiệp hóa xã hội), những kẻ cùng lúc vừa đánh mất đi khiếu thẩm mỹ dân gian, vừa bị thúc ép bởi nhu cầu khẳng định bản thân trong một môi trường mới, “rốt cục đã thiết tạo nên các yêu sách mới, và cưỡng ép xã hội phải sản tạo ra một dạng văn hóa thỏa mãn được khẩu vị văn hóa của họ" (7). Tuy nhiên, trong cuốn tiểu thuyết Đời nhẹ khôn kham (Unbearable Lightness of Being) của mình, nhà văn Milan Kundera lại tìm cách gắn kết cái Kitsch vào các xã hội kiểu cộng sản, nơi nó được thể hiện “thông qua sự vống lên những niềm hân hoan tạo chế của cảm giác chứa chan tình cảm kiểu vô thức tập thể trong đời sống xã hội cũng như tình đồng chí thân thiện gượng ép của những người cùng phe cánh" (8). Quan niệm Kitsch như một “phạm trù văn hóa" (cultural category), triết gia Jean Baudrillard tìm cách truy ngược nguồn gốc của hiện tượng Kitsch cho tới tận thời điểm ra đời của “giai cấp trung lưu Phục hưng và sự hình thành của tính cầu kỳ cũng như trào lưu nghệ thuật Baroque của thế kỷ 17” (9). Baudrillard cho rằng, Kitsch luôn là bằng chứng cho sự chuyển biến (mobility) của xã hội, “Kitsch không bao giờ tồn tại trong một xã hội thiếu vắng sự chuyển biến", (10) ông khẳng định. Ở một tiểu luận quan trọng khác về cái Kitsch mang tên “Những ghi chú về vấn đề Kitsch", nhà văn Áo nổi tiếng Hermann Broch lại buộc tội cái Kitsch như thể một “nguyên tố dữ trong hệ thống nghệ thuật lành mạnh”, và về bản chất, nó “là một hệ thống mang tính phỏng nhại”(11). Gần đây hơn cả, Saul Friedlaner, trong bài viết “Phản tư về chủ nghĩa Quốc xã; một tiểu luận về cái Kitsch và sự chết" (Relections of Nazism; an essay on Kitsch and Death) lại “vạch trần ra những phương cách khác nhau mà nhờ đó cái Kitsch của chủ nghĩa Quốc xã (trong kiểu dạng trọn vẹn khác với những hình thái chuẩn của cái Kitsch mang tính giải trí của chủ nghĩa tư bản) kích thích niềm đam mê bệnh hoạn đối với sự chết chóc, một cách nào đó, thông qua hình ảnh thống thiết trong những cái chết bi hùng của các chiến binh"(12)

Từ một số đặc điểm trên đây của cái Kitsch, được phân tích và nhìn nhận qua góc nhìn của một số nhà văn và lý thuyết gia khác nhau, chúng ta đã có thể dễ dàng nhận thấy rằng, nếu như vào thời điểm cho tới trước thập kỷ 80, cái Kitsch tồn tại ở Việt Nam là dạng Kitsch theo mẫu nhận định của Kundera; dạng thẩm mỹ của sự “cường điệu vống lên những niềm hân hoan tạo chế" (minh họa rõ nét nhất cho dạng Kitsch này nằm ở các mô hình tranh cổ động với những khuôn mặt trẻ trung, tươi sáng, hồng hào luôn hướng về phía trước hoặc trong các vở nhạc kịch Trung Hoa quy tụ hàng trăm diễn viên với không gian rực đỏ cờ hoa), dạng thẩm mỹ được bảo trợ bởi các chính sách văn hóa của nhà nước (13) nhằm tới một mục đích nào đó (14), thì sau thập kỷ 90, dạng Kitsch tồn tại trong xã hội Việt Nam lại là dạng Kitsch theo mẫu quan sát của Greenberg hay của Baudrillard, dạng Kitsch xuất hiện một cách tự động và là hệ quả của các chuyển biến về mặt xã hội theo xu hướng thị trường và tiêu dùng.

Chính dạng Kitsch này, thể hiện qua hình ảnh của các đồ trang sức, đồ lưu niệm rẻ tiền, các mặt nạ dân tộc, các quầy băng đĩa nhạc, các khu vui chơi tập trung như Đầm sen, Suối tiên, các hình tài tử hay ca sĩ Hồng Kông, Hàn Quốc, các chương trình trò chơi dành cho đại chúng trên truyền hình, các chương trình ca nhạc giao lưu qua điện thoại với công chúng số đông qua sóng phát thanh v.v…, đã là một trong những mô hình thẩm mỹ chủ đạo chi phối phần lớn mặt bằng xã hội Việt Nam hiện tại (15).



Nhìn dưới ánh sáng này, rõ ràng các vật thể và không gian mang tính tạo chế, phỏng nhại và cường điệu trong tác phẩm Magma| không cần dỗ giấc của Sue Hajdu cũng lại đã trở nên những tấm gương phản chiếu rõ nét hình ảnh của xã hội Việt Nam, nơi đang có sự lưỡng lai của cả hai mô hình Kitsch kể trên.

Và hình ảnh rõ ràng nhất của sự lưỡng lai này đã được thể hiện, không chỉ thông qua sắc đỏ (là một thành tố biểu tượng có tính chủ đạo với tần suất xuất hiện rất cao trong mọi mô hình Kitsch với lõi cốt là các cảm xúc mang tính trực tiếp và tạo chế) xuất hiện tràn ngập không gian tác phẩm, mà còn thông qua chính mẫu trang phục do Sue Hajdu thiết kế riêng cho những người trình diễn. Trong mẫu trang phục đó, chiếc xà cạp, một vật thể dành cho đại chúng, rẻ tiền và rất hay xuất hiện trong các vũ kịch Trung Hoa thời Cách mạng Văn hóa, đã được phối kết cùng với những cặp kính mát diêm dúa, là những vật thể trang sức tượng trưng cho xã hội tiêu dùng hậu công nghiệp.

4.Sự nhòe mờ giữa chủ thể và đối tượng

Một trong những hiện tượng đáng lưu ý nhất của nghệ thuật đương đại, nhìn dưới khía cạnh bản thể học, đó là hiện tượng tiến lại gần nhau, và rồi, nhoè lẫn vào nhau của chủ thể và đối tượng. Tại hai (trong số những) môi trường chủ yếu nhất của nghệ thuật đương đại là nghệ thuật sắp đặt (Installation Art) và nghệ thuật trình diễn (Performance Art), hiện tượng nhòe lẫn vào nhau của chủ thể và đồi tượng đều đã được thể hiện rất rõ.

Nếu như trong nghệ thuật sắp đặt, kể cả trong “sắp đặt định giới" (site-specific) và “phi định giới" (non site-specific), thông qua “nhu cầu đòi hỏi người xem nhìn xa hơn các đối vật biệt lập để thấy được văn cảnh trong đó một tác phẩm được sản tạo, được trình bầy và được tri nhận"(16), thông qua “sự định vị trong những văn cảnh văn hóa độc lập, có liên hệ và lấy cảm hứng từ chính môi trường trực tiếp”(17), cuộc nhòe mờ chủ yếu giữa chủ thể và đối tượng ở đây là cuộc nhòe mờ giữa công chúng và tác phẩm, thì trong nghệ thuật trình diễn - bởi “hai khía cạnh quan trọng nhất của nó, một là thân thể nghệ sĩ, trong vai trò là chất liệu gốc, và hai là cũng chính thân thể ấy trong vai trò phương tiện giao tiếp vừa mang tính trình hiện(presentational) vừa mang tính tái trình hiện (representational),-cuộc nhòe mở chủ yếu nhất giữa chủ thể và đối tượng ở đây lại là cuộc nhòe mờ giữa nghệ sĩ và tác phẩm. Trong vai trò công cụ tái trình hiện, nghệ thuật trình diễn trở nên đối tượng mỹ học dành cho sự thưởng ngoạn (người trình diễn lúc này trở nên đối tượng cho cho người xem). Tuy nhiên, với vai trò là công cụ trình hiện, nghệ thuật trình diễn lại trưng bầy ra chính chủ thể thực (người trình diễn chính là một chủ thể)” (18).

Hiện tượng nhoè mờ này của chủ thể vào đối tượng, nhìn một cách nào đó, thể hiện chính cái nhìn phản tư (self–reflexive) của con người vào một thế giới đã từng bền vững và cố định, thế nhưng giờ đây không còn có thể hiểu được nữa. Chính sự hoài nghi vào các tiền đề cũ đã chi phối các tiếp cận của nghệ sĩ từ mọi khu vực nghệ thuật. Họ không còn đủ điềm tĩnh và chừng mực để giữ nguyên hoặc (đôi khi) trang trí thêm cho cái khoảng cách nghiêm cẩn giữa họ và các đối tượng mà họ tiếp cận nữa, cho dù đó là chủ đề nghệ thuật, vật thể hay hiện trạng xã hội. Mỗi tiếp cận của họ tới chủ đề, giờ đây, chính là một tra vấn thẳng thừng của họ vào mọi ngóc ngách – không những của chủ đề ấy, mà còn vào ngay chính vào hành vi tiếp cận, vào ngay chính phương tiện và phương pháp tiếp cận mà họ đang sử dụng.

Nhìn một cách nào đó, tác phẩm Magma| không cần dỗ giấc của Sue Hajdu đã chính là một sân khấu mà trên đó hiện diện cả hai cuộc nhoè mờ tiêu biểu cho mọi tác phẩm nghệ thuật đương đại vừa kể trên.

Trong vai trò một sắp đặt định giới, tác phẩm của Sue Hajdu đã tạo ra một hiệu ứng “toàn nhập” (immersive) đối với cả hai dạng công chúng tham dự vào tác phẩm.

Với những công chúng tham dự một cách trực tiếp (những người ngủ trong căn phòng kính), việc được (bị) đặt vào một trạng thái lạ lùng giữa riêng tư và công cộng rõ ràng đã gây nên trong họ một nỗi hoang mang kỳ lạ. Ngay khi ý thức về tình thế lộ thiên của các hành vi riêng tư của mình trước hàng trăm con mắt quan sát của công chúng phía ngoài đường, một nỗi bất an và ngại ngùng đã nẩy sinh trong tâm lý của những công chúng ấy. Tuy nhiên, cũng ngay lúc đó, bởi ý thức rõ rệt về tình trạng được bảo vệ trong một khu vực an toàn bất khả xâm phạm tuyệt đối, nơi tâm lý của các công chúng đang nằm ngủ trong căn phòng kính (được bảo vệ bằng nhiều lớp cửa sắt) cũng lại xuất hiện một cảm giác dễ chịu của việc được thoát khỏi mọi nỗi hiểm nguy của đời sống bên ngoài (cái cảm giác tương tự như cảm giác thường xuất hiện mỗi khi chúng ta nằm trong chăn ấm nệm êm trong khi ngoài trời mưa to bão lớn).

Chính nỗi hoang mang kỳ lạ gây nên bởi hai khía cạnh tâm lý trái nghịch nói trên đã mang những công chúng tham dự trực tiếp vào tác phẩm tới một không gian tâm lý khác xa với những gì mà họ từng quen thuộc trước đây, một không gian tâm lý cách ly hẳn khỏi đời sống thường nhật.

Về phần những công chúng gián tiếp tham dự vào tác phẩm (những người đứng xem ở bên ngoài), tuy bị ngăn cản một cách vật lý khỏi tác phẩm bởi tấm kính chịu lực trong suốt, thế nhưng qua những gì họ quan sát thấy trong căn phòng đỏ nơi có những công chúng giống như họ đang nằm ngủ, rõ ràng là một sự kết nối nào đó về mặt tâm lý (thông qua các hiệu ứng thị giác) giữa bản thân họ với tác phẩm đã xuất hiện. Sự kết nối về mặt tâm lý này đã xoá nhòa đi khoảng cách vật lý giữa các công chúng quan sát tác phẩm và bản thân tác phẩm để rồi, cũng lại mang những công chúng ấy tới một không gian tâm lý mới mẻ, vừa có tính chất liên đới, vừa có tính chất ngoại phạm, một không gian tâm lý luôn xuất hiện trong các tình huống thị dâm (voyeristic).

Chính hiệu ứng tâm lý mang tính toàn nhập lạ lùng và nước đôi này - xảy ra cho cả hai dạng công chúng khi tham dự (hoặc gián tiếp, hoặc trực tiếp) vào tác phẩm – đã là những gì làm cho tác phẩm của Sue Hajdu thuộc về cái phạm trù mang tên “vượt thoát" (escape), là một trong năm phạm trù (19) của nghệ thuật sắp đặt được tổng kết tại thời điểm bắt đầu thiên niên kỷ mới. Điểm chung của các tác phẩm sắp đặt thuộc phạm trù “vượt thoát" này là: “bằng cách này hay cách khác, chúng luôn tạo ra những không gian mang tính tưởng tượng cao nhằm khích gợi (và mang đem) công chúng vượt thoát khỏi các tình huống thuộc đời sống thường nhật…” (20).

Tuy nhiên, khi quan sát tác phẩm Magma| Không cần dỗ giấc dưới góc độ là một tác phẩm trình diễn, chúng ta lại dễ dàng nhận thấy, do có sự góp mặt của chính tác giả Sue Hajdu vào tác phẩm (Sue Hajdu là một trong hai người ngủ đầu tiên vào ngày khai mạc tác phẩm), khoảng cách giữa bản thân nghệ sĩ và tác phẩm này đã bị xóa bỏ thẳng thừng.

Trong vai trò là một thành tố cấu thành nên tác phẩm, một tình trạng lẫn lộn giữa chủ thể (subject) và đối tượng (object) đã lập tức xuất hiện ngay nơi thân thể Sue Hajdu. Chính tình trạng lẫn lộn này, xuất hiện khi thân thể trở nên chất liệu nghệ thuật, đã khiến cho cái thân thể ấy không chỉ còn là một tồn tại (being) đơn tĩnh nữa, mà trở nên một khu vực của vô số ranh giới: ranh giới giữa chủ thể và đối tượng, giữa ta và họ, giữa vật chất và tinh thần, giữa nhìn và bị nhìn, giữa định nghĩa và bị định nghĩa, giữa diễn giải và câu đố, giữa sự thực cuộc đời và ảo giác nghệ thuật v.v…

Và ngay tại nơi đây, một chiều kích mới cho tác phẩm đã được mở ra, chiều kích của mối tương liên bất khả tháo gỡ giữa những trải nghiệm riêng tư của nghệ sĩ và sự sản tạo nghệ thuật mang mầu sắc xã hội.

5.Kết luận

Dường như luôn có hai nguy cơ chủ yếu đe dọa các tác phẩm theo xu hướng đương đại của các nghệ sĩ làm việc trong môi trường Việt Nam. Nguy cơ thứ nhất nằm ở sự cầu kỳ và rắc rối trong cách tiếp cận vấn đề. Nguy cơ này (hoặc bởi chủ quan, khi nghệ sĩ lệ thuộc quá nhiều vào lý thuyết và kỹ thuật do tình trạng làm nghệ thuật theo từ điển, hoặc bởi khách quan, khi nghệ sĩ phải tỉm cách tiếp cận đường vòng với chủ đề để tránh khỏi chính sách kiểm duyệt cứng nhắc quan liêu) thường dẫn tác phẩm tới tình trạng của một đống hổ lốn các hiệu quả thị giác, thính giác hoặc công nghệ cũng như vô số ẩn dụ rỗng nghĩa, để rồi kết quả sau cùng chỉ là một cảm giác lạc lõng và nhạt nhẽo hiện diện nơi người xem. Nguy cơ thứ hai là nguy cơ của những thông điệp giản đơn một chiều theo kiểu trắc nghiệm, được tạo chế chỉ để phục vụ óc tò mò của những người xem khác văn cảnh. Nguy cơ này lại luôn dẫn tác phẩm - bởi thiếu đi tính chất phản tư cần có - tới một không khí hoặc là cường điệu, hoặc là nghiêm trang giả tạo, bất kể tác phẩm có đề cập tới vấn đề gì đi chăng nữa.

Thế nhưng, có thể nói, tác phẩm Magma: không cần dỗ giấc của Sue Hajdu chính là một trong những tác phẩm nghệ thuật đương đại hiếm hoi thực hiện tại Việt Nam tránh được cả hai nguy cơ kể trên.

Thông qua việc sử dụng chất liệu, không gian, thời gian và công nghệ một cách chính xác và hợp lý, thông qua việc cung cấp cho tác phẩm một bộ khung xương ý niệm sắc rõ, cũng như thông qua việc tạo cho tác phẩm một góc nhìn nhiều chiều mở ra với mọi diễn giải, mọi cách đọc, tác phẩm này rõ ràng đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hành trình nghệ thuật của Sue Hajdu.

Và có lẽ, thậm chí cũng không hề quá lời chút nào khi cho rằng tác phẩm này đã ghi một dấu mốc rất quan trọng trên mặt bằng nghệ thuật đương đại tại Việt Nam trong khoảng (ít nhất là) 5 năm trở lại đây.

------

(1)John Gage, Colour and Meaning, Art, Science and Symbolism, Thames and Hudson, 2002

(2) Arthur C. Danto, Encounters & Reflections, Art in the Historical Present, The Noonday Press Farrar Straus Giroux, New York, 1991

(3) Arthur C. Danto, sđd.

(4) Jean Baudrillard, The Consummer Society, SAGE Publications, 1999

(5)John Gage, sđd.

(6) Nhìn từ góc độ từ nguyên, có một vài ý kiến cho rằng từ "Kitsch" có lẽ bắt nguồn từ chữ "Keetcheetsya" của Nga, với ý nghĩa "ngạo mạn và rỗng tuyếch", tuy thế, phần lớn ý kiến còn lại lại cho là khái niệm này xuất hiện lần đầu tiên tại hội chợ nghệ thuật Munich vào năm 1860, khi từ "Kitsch" được sử dụng để diễn tả những bức tranh giá rẻ hay các "sketches" (các bức vẽ phác). (Chữ tiếng Anh “sketches”, được phát âm bởi người Đức, hay là sự nuốt nguyên âm của một động từ tiếng Đức "Verkitchen", có nghĩa là "hạ giá"), Sam Binkey, Gale Encyclopedia of Popular Culture

(7)Clement Greenberg, “Avant Garde and Kitsch”

(8)Sam Binkey, bài đã dẫn.

(9)Jean Baudrillard, sđd.

(10)Sđd.

(11)Hermann Broch: “Einige Bermerkungen zum Problem des Kitsches” in Gesammelte Werke, vol. 6, Dichten und Erkennen, Zürich: Rhein, 1955. Translated as “Notes on the Problem of Kitsch” in Kitsch: the World of Bad Taste, edited by G. Dorfles, 49-76. New York: Univer Books, 1969.

(12)Sam Binkey, bài đã dẫn.

(13)Có lẽ cũng thú vị nếu trích ra đây một đoạn ngắn trong bài viết “Avant Garde and Kitsch" (Tiền phong và cái rởm, bài đã dẫn) của Clement Greenberg: “Ngày nay, ở nơi nào thể chế chính trị thiết lập một chính sách văn hóa chính thống, thì ở nơi đó nó tìm kiếm sự mị dân. Nếu như hiện cái rởm đang là xu hướng chính thống của văn hóa tại Đức, Ý và Nga (thời điểm năm 1939), thì hoàn toàn không phải vì chính phủ ở mỗi quốc gia đó được cầm quyền bởi những kẻ Philistine, mà bởi cái rởm đang chính là thứ văn hóa đại chúng tại những nơi đó. Sự cổ vũ cho cái rởm (của chính phủ) đơn thuần chỉ là một trong những phương cách dùng để thu phục nhân tâm…”

(14)Không phải ngẫu nhiên mà tại một số quốc gia và chính thể cổ vũ cho nền thẩm mỹ Kitsch, dạng nghệ thuật tiền phong (mà một hình ảnh của nó được thể hiện trong hội họa qua phong cách trừu tượng) là dạng nghệ thuật bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, về vấn đề này, theo Greenberg: “Trên thực tế, rắc rối chính của văn chương và nghệ thuật tiền phong… không phải vì chúng mang tính phê phán, mà là vì chúng quá “vô can" (innocent) – và do đó, thật quá khó khăn để đưa vào đó các hiệu quả tuyền truyền cổ động, trong khi đó, cái Kitsch lại quá dễ ăn nhời với mục đích này…”

(15)Sam Binkey, trong bài viết đã dẫn, phân tích về mô hình hình thành của dạng Kitsch này như sau: "Vào khoảng giữa thế kỷ 19, những phát kiến mang tính máy móc trong việc sản xuất, phân bố cũng như bán lẻ hàng hóa thương mại, cùng với xu hướng đô thị hóa đã làm cho những sản phẩm tạo chế mang mầu sắc văn hóa số đông có thể tới được với mọi người. Tại Âu châu và Bắc Mỹ, vị thế bề trên của tầng lớp tăng lữ đã buộc phải chấm dứt bởi những biến chuyển về mặt kinh tế đã tạo ra một tầng lớp trung lưu mới mẻ và đông đúc tại các thành thị. Những nông dân và công nhân truyền thống với niềm tin vào các hình thái văn hóa có tính chất xưa cũ, quê mùa, và bản địa đã tìm mua những đồ nữ trang, đồ trang trí, và các tượng nhỏ lòe loẹt rẻ tiền để trang hoàng cho các căn phòng của họ nơi thành phố. Với thu nhập đủ xài và thời gian rỗi đủ để sử dụng, tầng lớp lao động thành thị mới mẻ này đã cố gắng tìm kiếm sự giải trí và vui chơi cho mình, nhưng quan trọng hơn cả, là họ đã muốn tạo nên một vị thế mới cho bản thân họ như những kẻ có văn hóa, những kẻ thạo đời, thông qua việc trưng khoe cái khiếu thẩm mỹ của họ đối với những "đồ vật đẹp đẽ". Những lao động bậc thấp này kéo bầy theo sau những món vật xa xỉ được tạo sản ra cho khối lượng lớn, đặc biệt, thường là những sản phẩm xa xỉ giả tác giá rẻ, những món vật "mỹ thuật" được tạo chế một cách thô vụng và nhanh tiện để cho giống với những sản vật sang trọng, đẹp khéo và cao cấp của giới thượng lưu cũ: đồ gỗ mạ vàng, chuỗi hạt kim cương thủy tinh, đèn nến chạm trổ, tranh giả, những bản sao của các tượng hay đồ gốm cổ cũng như các đồ trang hoàng tiền sảnh theo nghĩa tạo ra được thật nhiều hiệu quả mà không phải tốn quá nhiều tiền bạc hay công sức. Vào thời điểm các xã hội đang bắt đầu quá trình công nghiệp hóa, cũng là thời điểm vô số người đang bắt đầu làm quen với những sản vật của một nền văn hóa đại chúng mới, Kitsch đã xuất hiện như thể mẫu số văn hóa chung thấp nhất của xã hội hiện đại, vượt xa mọi sự phân định của các giai cấp cũ bằng những kỹ năng tiêu thụ mang tính đại chúng (mass consumption) mới mẻ. Và bởi các nguyên nhân vừa nêu, sự nổi lên một cách rộng rãi của cái Kitsch thường bị quy lỗi cho sự xói mòn của "nền văn hóa cao cấp" (high-culture) có tính chất chuyên tinh (elite), sự tiêu vong của nền văn hóa dân gian "folk culture" mang tính địa phương, và sự "đần hóa" (dumbing down) mà các xã hội hiện đại mang tới…”

(16)Kristine Stiles, Themes in Contemporary Art, edited by Gill Perry and Paul Wood, Yale University Press 2004, chapter 5; Eye/Oculus: performance, installation and video

(17)Sđd.

(18)Sđd.

(19 )Năm phạm trù đó là: 1. Vượt thoát (escape), 2. Tác giả và định chế (author and institution), 3. Trao đổi và tương tác (exchange and interaction), 4. Thời gian và tự sự (time and narrative), 5. Sự tham gia của công chúng (the body of audience). Installlation Art in the New Millenium, Nicolas De Olivera, Nicola Oxley, Michael Petry, Thames & Hudson, Ltd, London, 2003

(20 )Người ta có thể nhìn thấy nét tương đồng nào đó trong tác phẩm của Sue Hajdu với tác phẩm, cũng thuộc phạm trù vượt thoát, của nghệ sĩ Hàn Quốc Lee Bul, mang tên “Gravity Greater Than Velocity II” (Trọng lực lớn hơn tốc lực II), 1999. Tác phẩm bao gồm ba “karaoke pods” (ba phòng hát karaoke nhỏ chỉ đứng vừa một người), được lắp đặt màn hình video và danh mục các bài hát thích hợp thuộc một chủ đề cụ thể nào đó. Trong tình trạng riêng tư của phòng karaoke cách âm tuyệt đối, được thiết kế hoàn hảo, công chúng tham dự đã được cung cấp một cơ hội hưởng thụ màn trình diễn của cá nhân mình, Installlation Art in the New Millenium, Sđd.

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

Vài ý rời về triển lãm “Những con số” của Le Brothers Thanh & Hải

Như Huy

Từ năm năm trở lại đây, mỗi năm, cặp nghệ sĩ là hai anh em sinh đôi Lê Ngọc Thanh và Lê Đức Hải, với nghệ danh Le brothers Thanh & Hải, đều tổ chức một cuộc triển lãm giới thiệu công việc trong một năm của mình. So với mọi năm, năm nay, cả hai đã đưa ra một khối công việc đồ sộ hơn hẳn. Triển lãm lần này, với tên gọi Những con số, có thể được coi như một cuộc trình bày cỡ lớn và đa phương tiện, mà ở đó, cùng với một bộ phim ba kênh màu Chạm tới biển, 2011 (từng được giới thiệu lần đầu tiên tại không gian nghệ thuật Ga 0, TP.HCM), còn là hai tác phẩm đặc biệt khác, Chén và đũa,1945Giường nội trú, 1991.

Điểm chung của những tác phẩm này nằm ở chỗ, cả ba, từ các giác độ và hình thức khác nhau, theo tôi đều là sự diễn giải của hai nghệ sĩ về quá khứ. Tuy nhiên, trước khi trình bày vài suy nghĩ của mình với các tác phẩm ấy, tôi muốn minh định thuật ngữ diễn giải mà tôi dùng ở đây.

Diễn giải chính là hiểu

Trong thông diễn học, diễn giải được coi là một tác vụ chính để qua đó, chủ thể diễn giải có thể đạt tới một sự hiểu về đối tượng. Nhìn từ góc độ này, diễn giải là để tìm cách hiểu đối tượng được diễn giải, hay thậm chí, nói theo Gadamer, diễn giải cũng chính là hiểu. Ở đây có một điểm cần lưu ý. Không phải sau khi hiểu rồi chủ thể mới bắt đầu diễn giải về đối tượng đã được hiểu đó. Trái lại, chính ngay trong hành vi diễn giải, mà rồi sự hiểu, không như kết quả của hành vi diễn giải, mà nhờ vào thao tác thông dịch, xuất hiện đồng thời ngay trong hành vi diễn giải. Sự hiểu này, như vậy, có tính cá nhân hóa theo nghĩa chính đối tượng được diễn giải đã được thông dịch vào kinh nghiệm ngôn ngữ đặc thù của chủ thể diễn giải, và qua đó, tạo nên một sự hiểu đặc thù của anh ta về đối tượng. Tuy nhiên ngay khi đối tượng được thông dịch vào kinh nghiệm ngôn ngữ của chủ thể, chính bản thân các kinh nghiệm ngôn ngữ và nhất là các tiên kiến cũ của anh ta về đối tượng cũng sẽ biến cải, do đó, một sự hiểu đối tượng, thật ra cũng chính là một sự tự-hiểu-mình.

Dĩ nhiên sự minh định trên là rất vắn tắt, và chắc chắn không thể dùng nó làm một tham chiếu nào đó về bản thân ngành thông diễn học. Sự minh định này chỉ nhằm mục đích cho thấy rõ chiều sâu của hành vi diễn giải, để từ đó, có một cái nhìn đúng hơn về nỗ lực của Le Brothers, khi thông qua các tác phẩm nghệ thuật, họ tìm cách đưa ra sự diễn giải của họ, tức sự hiểu của họ về quá khứ, cùng lúc ấy, tạo nên một sự tự-hiểu-mình.

Ba tác phẩm Chạm tới biển, 2011, Chén và đũa, 1945, Giường nội trú, 1991


Trở lại với ba tác phẩm lần này của Le Brothers, xét về mặt hình thức nghệ thuật, tác phẩm Chạm tới biển, 2011 mang dáng vẻ một bài thơ siêu thực, ở đó phong cảnh thực tại và cụ thể bị/được chuyển hóa thành các ký hiệu thuần túy thị giác và phi cụ thể, nhân vật bị/được chuyển hóa thành các vai diễn mà mỗi hành vi đều không đi theo bất kì một trật tự kể chuyện mạch lạc nào, và thậm chí cái gọi là một mạch truyện cũng bị/được hòa tan vào vô số các biến cố thị giác khác nhau mà sự liên nối của chúng hầu như hoàn toàn tùy thuộc vào cách tiếp cận của mỗi người xem khác nhau. Tuy nhiên, chính thông qua sự “tản mác”, sự “rã mảnh” của tất cả các yếu tố phong cảnh, nhân vật và cốt truyện đó, mà hình như một hình ảnh-khung vòm cho một quá khứ nào đó của chính đất nước Việt Nam, trong vai trò là một quốc gia hiện đại, đã được dựng lên. Ở khung vòm này, qua hình ảnh hai nhân vật giống hệt nhau xuất hiện trong bộ phim, lúc u buồn, lúc giận dữ, và trên hết là vô hướng, cái quá khứ ấy, đã hiện ra rõ ràng trong một ẩn dụ không thể nhầm lẫn về tiến trình miên viễn của thống nhất và phân li.

Nếu như tác phẩm Chạm tới biển, 2011, trong hình hài của một bài thơ siêu thực, và qua đó, giải hóa đi mọi yếu tố vật chất, cụ thể nơi sự tiếp nhận của người xem, hai tác phẩm Chén và đũa, 1945Giường nội trú, 1991, lại không chỉ có tính cụ thể ngay nơi cái tên của chúng, mà còn trong chính sự áp chế do tính vật chất của chúng tạo ra.


Chi tiết sắp đặt "Chén và đũa, 1945"

Thật vậy, xuất hiện trong hình hài của 1945 chiếc bát và đôi đũa sơn mài, và tạo nên một không gian sắp đặt đầy áp chế, tác phẩm Chén và đũa, 1945, trong tính vật chất của chúng, trong không gian thị giác vàng son do chúng dựng nên, dường như lập tức đưa người xem vào một chiều kích nằm chênh vênh giữa hiện tại và quá khứ, thực tại, và tưởng tượng, đời thường và tâm linh. Ở khoảng chênh vênh ấy, có lẽ công chúng sẽ khó có thể phân biệt rõ 1945 chiếc bát và đôi đũa này là những vật dụng đời thường thiết yếu của đời sống, hay đó là những vật thể nghi lễ không thể thiếu được của sự chết (bát cơm quả trứng); là những biểu tượng cho sự đầm ấm sum vẩy, trong hình hài của một bữa tiệc đoàn viên, hay là những biểu tượng cho sự hư vô, ly tán trong hình hài của 1945 nấm mộ tròn bị lật ngược.

Thật ra, ở tác phẩm sắp đặt này, chính không gian vật chất áp chế của 1945 chiếc bát và đôi đũa, trong dáng vẻ đều đặn đến kinh ngạc của chúng, trong sự lặp lại thị giác máy móc của chúng, trong màu sắc vàng son cụ thể của chúng, có lẽ đã là nguyên nhân chủ yếu đưa người xem vào một kinh nghiệm tương tự của kinh nghiệm có tính siêu ngợp và đậm chất tâm linh khi đứng trước một nghĩa trang với các ngôi mộ được sắp theo hàng lối chạy tít tắp về phía chân trời.

Cái quá khứ được diễn giải/hiểu ở đây, trong tác phẩm Chén và đũa,1945 này của Le Brothers, như họ viết trong bản thông cáo báo chí, chính là “một niềm đau khôn nguôi về việc hơn 2 triệu người dân chết đói vào năm 1945”, và vì thế, bản thân hành vi hiểu/diễn giải của hai nghệ sĩ hẳn cũng đã đồng nghĩa với “sự tưởng niệm”, hay nói cách khác, một sự tìm-cách-kết-nối với quá khứ ấy.


Toàn cảnh sắp đặt "Chén và đũa, 1945"

Giường nội trú, 1991 là một tác phẩm kiểu khác. Về mặt hình thức nghệ thuật, tuy cũng sử dụng cú pháp tạo không gian vật chất cụ thể, và lạ hoá các đồ vật đời thường, (theo kiểu tác phẩm Chén và đũa,1945), mà ở đây là hai chiếc giường (là loại thường được cấp cho các sinh viên nghệ thuật ở nội trú trong kí túc xá của trường đại học nghệ thuật Huế), với tác phẩm này, quá khứ được diễn giải/hiểu đã không còn là một quá khứ chung, mà là một quá khứ đặc thù, cụ thể của bản thân hai nghệ sĩ.


Hai tác giả bên tác phẩm "giường nội trú 1991"

Từng là sinh viên trường đại học nghệ thuật Huế và từng ở nội trú trong suốt nhiều năm dài, chiếc giường nội trú có thể nói, chính là vật gắn bó thiết thân với Le Brothers trong một giai đoạn quá khứ của họ.

Chính vì thế, ở đây, hành vi lạ hóa hai chiếc giường nội trú bằng cách phủ vàng son và đưa các yếu tố trang trí cổ vào, theo tôi, không hề mang bản chất giống như hành vi phủ vàng son có tính tâm linh của tác phẩm Chén và đũa,1945. Hành vi ấy, trong tác phẩm Giường nội trú, 1991, theo tôi, chỉ là một cách diễn giải quá khứ riêng tư bằng cách thẩm mỹ hóa nó, và qua đó trình bày ra sự hiểu của hai nghệ sĩ về quá khứ ấy, mà trong sự hiểu này, quá khứ đã trở nên đầy tính hoài cổ và duy mĩ.

Lẽ dĩ nhiên, từ góc độ tiếp nhận của công chúng, trong vai trò là một tác phẩm sắp đặt, sự xuất hiện song song của hai chiếc giường sơn son thếp vàng trong triển lãm, theo tôi cũng sẽ mở ra một kiểu nguyên cớ cho nhiều chiều kích diễn giải/hiểu khác nhau cho công chúng, vượt xa ý định ban đầu (nếu có) của hai nghệ sĩ.

Trong nguyên cớ ấy, bản thân các gợi nhắc về những chủ đề như quá khứ, hiện tại, ký ức, thực tại, vẻ vàng son và sự xuềnh xoàng, tức các gợi nhắc tất yếu sinh ra trong tiến trình chiếc giường nội trú được chuyển hóa từ một vật dụng cụ thể, khả dụng, thành một ký hiệu thẩm mỹ và không còn khả dụng trong đời thường, có lẽ sẽ đều trở nên các tiền đề cho vô số diễn giải/hiểu khác nhau của người xem.

Kết luận

Nói tóm lại, triển lãm Những con số của Le Brothers, diễn ra vào tháng 12 năm 2011, ngoài việc đánh dấu một chặng mới nhất trong quá trình lao động nghệ thuật của họ, đã cho thấy một cách tiếp cận đáng chú ý trong không gian nghệ thuật đương đại Việt Nam gần đây. Trong cách tiếp cận này, quá khứ không chỉ còn là một mục tiêu để kết án, giễu nhại, theo mô hình diễn ngôn của nghệ thuật đương đại Trung Hoa những thập kỷ 90, tức mô hình mà theo tôi, có ảnh hưởng không ít đến các nghệ sĩ đương đại Việt Nam, thậm chí là cho tới những năm gần đây. Trái lại, cái quá khứ xuất hiện nơi ba tác phẩm Chạm tới biển, 2011, Giường nội trú, 1991, và Chén và đũa,1945 của Le Brothers, dù theo những cách khác nhau, có vẻ như đều đã trở nên một không gian của sự phản tư, của sự thông dịch, và theo đó, của sự diễn giải.

Nhưng chẳng phải không gian của sự thông dịch, diễn giải, như đã được đề cập ở đầu bài viết, chính là không gian của sự hiểu, và theo đó, là không gian của sự tự-hiểu-mình hay sao? Có nghĩa là ở đây, qua sự hiểu ấy, đối tượng hiểu sẽ không bị thiểu hoá vào một khung hình tĩnh theo kiểu một phán quyết cuối kết, nằm tách biệt với chủ thể hiểu/diễn giải. Nhưng đã trở nên một địa bàn đầy sáng tạo, có khả năng mở ra cho mọi sự hiểu/diễn giải mới – không chỉ làm giàu có cho đối tượng được hiểu/diễn giải, mà còn cho chính các chủ thể hiểu/diễn giải về đối tượng.


*Bài viết cho Catalogue triển lãm Những Con Số của Le Brothers. Diễn ra từ ngày mùng 1 tháng 12 năm 2011-mùng 1 tháng 1 năm 2012, tại số 15 Lê Lợi, Huế

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2011

Hai tác phẩm của hai tác giả nữ tại Festival mỹ thuật trẻ năm 2011*

Như Huy


Nhìn từ một góc độ nào đó, thực hành nghệ thuật đương đại phải là một thực hành có tính đề hoá. Trái với các thực hành nghệ thuật đặt cơ sở hoàn toàn vào sự tương tác thị giác thuần tuý của người xem với tác phẩm- tức dạng thực hành nghệ thuật mà Duchamp gọi là “nghệ thuật võng mạc” (retinal art) , một thực hành đương đại sẽ hoàn toàn vô nghĩa nếu không tự mình đề hoá được một chủ đề diễn ngôn (dĩ nhiên cũng phải thông qua các hiệu ứng thị giác). Vì sao lại như vậy? Như chúng ta đều biết, một trong những động lực cho sự chuyển mình của nghệ thuật từ hiện đại tới đương đại chính là động lực chính trị và xã hội. Ở đây, trong luồng xoáy của động lực này, nghệ sĩ chợt khám phá ra vai trò của họ không chỉ là những nhà thuần tuý chủ nghĩa về mỹ học mà buộc phải là một kẻ “đọc văn bản chính trị xã hội”, và qua việc đọc ấy của mình, trình bày ra một góc nhìn riêng, mà trong góc nhìn đó, thực tại và bình luận của bản thân họ là không thể tách rời

Tuy nhiên ở đây ta cũng phải tỉnh táo để không rơi vào một góc nhìn đậm chất philistine về tính chính trị xã hội trong một thực hành nghệ thuật. Yếu tính chính trị, xã hội trong một thực hành nghệ thuật không hề là một bảo chứng tối cao cho sự thành công của nó. Trái lại, bởi là một tác phẩm nghệ thuật (techne)(1), nó cần phải làm lộ ra điều gì đó, làm cho điều gì đó xuất hiện ra, hay nói theo cách của Heidegger, thông qua tác phẩm nghệ thuật, sự thật phải được hiển lộ ra. Một tác phẩm nghệ thuật, nếu không làm cho sự thật được hiển lộ ra, mà chỉ dừng lại ở mức nói-về-sự-thật, hay nói cách khác, chỉ lấy sự-thật làm đề tài, chỉ là một tác phẩm xoàng. Chính ở đây tồn tại sự khác biệt giữa đề hoá (thematization) và chủ đề. Lấy ví dụ, rất có thể sẽ có một tác phẩm nào đó lấy phụ nữ, hay tính nữ, làm chủ đề. Tuy nhiên việc lấy phụ nữ hay tính nữ làm chủ đề này không thể là cơ sở đảm bảo tối cao cho việc nó là một tác phẩm thành công. Trái lại, việc đề hoá, phải là một công việc đặt cơ sở trên sự nghiên cứu sâu xa, trên sự cá nhân hoá của nghệ sĩ vào một chủ đề chung, và trên hết là trên sự độc đáo trong các cách xử lí chất liệu thị giác của mỗi nghệ sĩ, tức sự độc đáo sinh ra từ tiến trình đồng hoá cái cá nhân của nghệ sĩ vào cái chủ đề chung. Chỉ trên cơ sở này, một tác phẩm thành công sẽ là một tác phẩm mà ở đó sự thật được hiển lộ - thông qua sự hài hoà tuyệt đối giữa tất cả các hiệu ứng thị giác với chủ đề được đề hoá, hay nói cách khác, một tác phẩm thành công không phải là một tác phẩm mà ở đó chủ đề này hay chủ đề khác được đề cập, nhưng nó phải là nơi mà cái chủ đề, thông qua quá trình được đề hoá thành công, đã trở nên hợp nhất toàn bộ với mọi yếu tố và hiệu ứng thị giác của bản thân tác phẩm từ đó đạt tới tầm mức diễn ngôn, qua đó mở ra được các khả thể đồng sáng tạo cho người xem.

Trong bài viết này, tôi muốn đề cập tới hai tác phẩm của hai tác giả nữ, một ở Hà Nội, một ở Huế, cùng tham gia festival mỹ thuật trẻ năm 2011. Theo tôi, với hai tác giả này, chủ đề nữ, không chỉ đã được đề cập, mà còn đã được đề hoá thành công theo hai cách khác nhau, và qua đó, tạo nên hai không gian diễn ngôn riêng biệt rất đáng chú ý cho nghệ thuật Việt Nam gần đây.

Tác phẩm “ Sự nở“ của Nguyễn Thị Lan

Khi bước vào trong một căn phòng vuông vắn, khoảng 12 mét vuông, người xem hẳn sẽ cảm thấy bị áp đảo bởi cách sắp xếp của một cuộn vải lớn, trông vừa như thể một đoá hoa khổng lồ, vừa như thể một cơ quan nội tạng siêu thực, vừa như thể cửa vào một đường hầm kì bí. Điểu đặc biệt ở đây là, cảm giác chung siêu ngợp của người xem dường như rất khó cắt nghĩa. Họ không thể biết được họ đang đứng trước điều gì và phải ứng xử ra sao trong không gian hẹp này. Dưới các nếp vải mềm mại thả từ trần xuống bừng lên ánh sáng xanh biếc huyền bí, song bản thân hình khối được sắp xếp lại từ tấm vải lớn này- là một hình lỗ tròn ở giữa với các ống toả ra bốn phía lại gợi lên ẩn dụ có tính cụ thể về âm hộ


Tác phẩm "sự nở" của Nguyễn Thị Lan ( nghệ sĩ Huế)

Tác phẩm được nghệ sĩ đặt tên là "sự nở"- cái tên hàm ý (như nghệ sĩ xác nhận trực tiếp với tôi) -vừa là về sự nở hoa, vừa là về sự sinh nở. Rõ ràng ở đây, nghệ sĩ đã đề cập trực tiếp về một khoảnh khắc đẹp đẽ và viên mãn nhất của mọi phụ nữ, khoảnh khắc sinh nở. Không gian này đã chính là một không gian được tạo ra để soi chiếu về khoảnh khắc đó.

Tuy nhiên, bất chấp việc các hàm ý về hình ảnh và ngay cả tên tác phẩm đều có tính rất cụ thể hàm chiếu về tính nữ, theo tôi, ở đây nghệ sĩ hoàn toàn không tìm cách đưa ra một góc nhìn bản chất luận có tính gây hấn. Chúng ta đều biết âm hộ phụ nữ từng được các nghệ sĩ nữ quyền thời kì đầu sử dụng như thể một hình ảnh để đưa ra các thông điệp có tính bản chất luận, mà ở đó, tính nữ hay phụ nữ là điều được tôn vinh. Trong tác phẩm “bữa tiệc tối” (dinner party) của nghệ sĩ Judy Chicago, được trình bầy lần đầu vào năm 1979. Judy Chicago đã đặt lên trên các chiếc bàn được sắp xếp theo hình tam giác các đĩa an mà ở trên đó có hình cánh bướm hoặc các đoá hoa hình âm hộ kèm theo tên tuổi của các nghệ sĩ hay nhà khoa học nữ thành công. Gần đây hơn, nghệ sĩ nữ Trung Quốc Chen Lingyang đã lại sử dụng âm hộ một cách trắng trợn hơn , khi trong tác phẩm 12 tháng hoa ( twelves months of Flowers) của mình vào năm 2000, cô chụp âm hộ của bản thân khi đang trong kì kinh nguyệt, và sử dụng hình ảnh ấy để thiết kế nên các bức ảnh với định dạng theo các cách trang trí truyền thống của nghệ thuât và kiến trúc Trung Hoa. Chiến thuật của cả hai nghệ sĩ này, dù cách xa nhau một khoảng cách thời gian hai thập kỉ, và khoảng cách địa lí tầm châu lục, theo tôi đều có sự tương đồng ở việc họ đều tìm cách vinh danh cái gọi là một bản chất nữ để gây hấn với xã hội tuân theo một hệ phân cấp vừa vô thức, vừa ý thức mà ở đó nam giới luôn ở đẳng cấp cao hơn. Tuy nhiên, cách tiếp cận bản chất luận này đã bị các nhà nữ quyền thuộc thế hệ thứ hai phản đối, họ cho rằng ngay cả cái gọi là tính nữ cũng chỉ là điều gì đó do các bộ chuẩn tắc của nam giới tạo ra. Có nghĩa rằng họ cho là bản thân các bộ đặc tính nào đó, như dịu dàng, mềm mại, hay tinh tế, tức những đặc tính thường được quy cho nữ giới, là điều gì không có thực. Thật ra, đó chính là do cấu trúc của các bộ chuẩn tắc văn hoá đặt cơ sở trên mối quan hệ nhị phân. Do đó, nỗ lực của các nhà nữ quyền thuộc thế hệ thứ hai không hề tìm cách đi sâu vào cái gọi là tính nữ theo kiểu bản chất luận, mà mục tiêu của họ là nhằm tới việc giải kết cấu chính bộ chuẩn tắc văn hoá. Cách tiếp cận này có thể thấy rõ qua thực hành của nhóm nữ du kích, mà tiêu biểu là việc nhóm này viết lại sách về lịch sử nghệ thuật. Cuốn sách của họ mang tên “ sách hướng dẫn gối đầu giường về lịch sử nghệ thuật phương Tây của các nữ du kích” (The guerrilla girls’ bedside companion to the History of Western Art) . Trong cuốn sách này, bằng giọng điệu biếm giễu, các nữ du kích đòi hỏi phải đưa thêm các nghệ sĩ nữ vào lịch sử nghệ thuật. thậm chí họ đòi hỏi các giám tuyển nghệ thuật phải theo học các khoá nâng cao về lịch sử của ngành làm mền, tức một thực hành mà nhiều nữ nghệ sĩ nô lệ ngày xưa đã sử dụng để tạo ra các tác phẩm mền đẹp đẽ.


Tác phẩm bữa tiệc tối của Judy Chicago


tác phẩm "mười hai tháng hoa" của nghệ sĩ Chen Lingyang


“ sách hướng dẫn gối đầu giường về lịch sử nghệ thuật phương Tây của các nữ du kích” (The guerrilla girls’ bedside companion to the History of Western Art)

Điểm sơ lược qua sự phát triển của hai quan điểm nữ quyền luận thế hệ thứ nhất và thế hệ thứ hai ở đây, mục đích của tôi nhằm nhấn mạnh rằng, theo tôi, việc nữ nghệ sĩ Nguyễn Thị Lan tạo nên một không gian với các ám gợi cả về không gian (thầm kín, riêng tư, huyền bí) cả về hình ảnh thị giác (hình ảnh âm hộ đang phô ra) hoàn toàn không phải là một cách tiếp cận có tính bản chất luận. Việc đây không chỉ là một không gian kiểu thầm kín, riêng tư và kín đáo của một âm hộ, mà hơn thế nó là không gian của sự huyền bí, đẹp đẽ và tinh tế của một khoảnh khắc khai hoa nở nhuỵ, khoảnh khắc sinh nở, theo tôi đã vượt hoàn toàn khỏi các mối quan tâm cả về bản chất luận, lẫn về cấu trúc văn hoá để đạt tới cái nhìn mang tính nhân bản bao quát hơn về con người. Ở đây điều quan trong không nằm ở việc ta nên coi nữ hay nam là kẻ quan trọng hơn trong thế giới này, hoặc nên tìm cách giải kết cấu cấu trúc xã hội và văn hoá do nam giới tạo nên. Điều quan trọng ở đây là việc bất kể dẫu là nữ hay nam, trong không gian đầy ấm áp, huyền bí, bao dung được tạo nên từ sự mịn màng của bề mặt vải, từ ánh sáng huyền ảo lấp lánh phía dưới mặt vải, từ cảm xúc được che chở, kín đáo và thân tình của toàn bộ căn phòng, dường như tất cả chúng ta đều đã được đem trở lại cái không gian tâm lý và vật lý quen thuộc nơi lòng mẹ, qua đó tìm lại mối quan hệ có tính cơ sở nhất của chúng ta với cơ thể chúng ta .

Tác phẩm "Nếp gấp" của Nguyễn Thị Diệp

Trái với cách tiếp cận có tính toàn nhập của Lan, mà ở đó, người xem được tạo cơ hội không chỉ thưởng thức mà còn đi vào trực tiếp, theo nghĩa đen, các hàm ngụ và thậm chí toàn bộ không gian tác phẩm, tác phẩm “nếp gấp”của Nguyễn Thị Diệp, một nữ nghệ sĩ Hà Nội, lại cho thấy một cách thức tư duy sắc sảo, tinh tế và không kém phần hóm hỉnh về chủ đề tính nữ

Tác phẩm của chị là một số vật dụng làm bằng gốm, tuy nhiên, ở đây, chúng không xuất hiện trong trạng thái bình thường. Hai chiếc bình gốm dài, một chiếc ấm, một chiếc bình tròn và một đôi đũa gốm, tất cả đều được “gấp” lại, theo kiểu các bộ quần áo được gấp lại gọn gàng. Cuối cùng, tất cả chúng đều được sắp xếp gọn ghẽ trên một chiếc bàn nhỏ, xinh xắn.


tác phẩm "Nếp gấp" của Nguyễn Thị Diệp ( nghệ sĩ Hà Nội)

Dù bề mặt, đây là một tác phẩm dễ nhìn, có vẻ trong trẻo, song tôi cho rằng tính phê phán của nó rất cao và đạt tới một tầm cấp diễn ngôn.

Về mặt chất liệu, gốm là một dạng chất liệu thường được quy cho vẻ đẹp á Đông, vẻ đẹp của sự dịu dàng, bền bỉ-ít ra là so với đồng, sắt hay thép. Gốm cũng gắn với các thao tác thủ công, cần tới sự khéo léo và kiên nhẫn, sự nhạy cảm, tức tất cả những gì thường được coi là các đặc tính tiêu biểu cho nữ giới, nhất là nữ giới Việt Nam.

Tuy nhiên, ở đây, trong tác phẩm “nếp gấp”, những vật dụng trang trí đẹp mắt- là các bình gốm được sắp xếp trên một mặt bàn nhỏ, y như kiểu những bộ quần áo được bàn tay của một phụ nữ đảm việc nhà xếp ngay ngắn trong tủ - đã bị làm biến nghĩa. Bản thân sự gọn gàng, ngay ngắn, và khéo léo ấy, qua tác phẩm của Diệp, đã bị cường điệu hoá để trở nên sự nghịch dị, và theo đó, sự đảm đang (thường được quy như một đặc tính đẹp đẽ của nữ giới) cũng đã bị cường điệu hoá để trở thành một trò đùa, một sự biếm giễu, hay môt bình luận phê phán vào chính tính đảm đang

Có thể coi đây là một trò đùa, song không hẳn vậy. Bởi sự tiếp cận rất thông minh và hóm hỉnh của Diệp, trò đùa này không chỉ dừng lại ở tầm mức một sự gây hấn, trêu chọc, mà còn là một lối bình chú đầy sắc sảo. Có thể nói, chính vì tính biếm giễu thông minh của nó, mà bản thân tác phẩm này của Diệp, giống như tác phẩm của Lan, song theo một kiểu khác, đã vượt khỏi thao tác kiểu tranh giành quyền lực – ví dụ như theo kiểu tác phẩm của Judy Chicago hay của Chen Lingyang, để đạt tới một dạng hành vi minh triết, hóm hỉnh, đầy chất hậu hiện đại. Trái với các dạng hành vi phê phán tự làm kiệt quệ bản thân trong mục đích tranh giành quyền lực, hay trong các thái độ kịch tính đậm chất sân khấu (mà theo tôi, nhiều nghệ sĩ Việt Nam làm việc với chủ đề Nữ thường sử dụng), sự hóm hỉnh và do đó, sự minh triết trong tác phẩm của Nguyễn Thị Diệp đã cho thấy khả thể của một lối tiếp cận nữ quyền khác. Trong lối tiếp cận này, bản thân kẻ phê phán, đã không tìm cách chiến thắng theo nghĩa đổi vế của mối quan hệ quyền lực giữa nam và nữ. Hơn thế, bằng chính sự giễu nhại vào cách nam giới diễn giải nữ giới, lối phê phán này thậm chí đã tìm cách giải hoá bản thân mối quan hệ quyền lực có tính nhị phân này.

Kết luận

Cuối cùng, xin trở lại với sự phân biệt được đặt ra ở đầu bài viết, tức sự phân biệt giữa một tác phẩm có chủ đề về Nữ hay tính nữ, và một tác phẩm, qua các hiệu ứng thị giác và tư duy của nó, đề hoá thành công chủ đề vê Nữ hay tính Nữ.

Theo tôi hai tác phẩm “sự nở” của Nguyễn Thị Lan, và “nếp gấp” của Nguyễn Thị Diệp, đều đã phần nào thành công trong việc đề hoá Nữ hay tính Nữ. Ở đây, chính tính Nữ hay Nữ đã trở nên một dạng chủ đề diễn ngôn, tức dạng chủ đề được tạo nên bằng sự suy ngẫm thông qua các hiệu ứng và yếu tố thị giác, chứ không phải chỉ được minh hoạ sơ sài bằng các tuyên bố kiểu cổ động hay bằng các hình ảnh một chiều về cơ thể phụ nữ - hoặc được tôn vinh như vẻ đẹp vĩnh cửu, hoặc được lâm li hoá trong một màn hành xác để vạch tội giống đực.

Tính nữ, hay Nữ xuất hiện ở đây không phải như một đề tài mà việc bình chú về nó một cách tích cực hay tiêu cực, kịch tính hay êm đềm chỉ là một công việc việc đậm chất minh hoạ. Trái lại, trong cả hai tác phẩm này, tính Nữ hay Nữ đã trở nên một địa bàn mở ra cho sự khám phá, cho sự phát hiện, cho sự khảo dò và trên hết, cho sự hân hưởng về mặt thị giác. Nói một cách khác, ở hai tác phẩm này, theo hai cách khác nhau, cái ý niệm (the conceptual) và cái thị giác (the visual) đã hợp một được với nhau, và qua đó tạo nên một địa bàn có tính diễn ngôn, mở ngỏ cho các suy tư tiếp nối của người xem chứ hoàn toàn không hạn định họ vào bất kỳ một vòng kim cô có tính tuyên truyền nào.

Vì lẽ đó, theo tôi “ Sự nở” và “nếp gấp” chính là hai tác phẩm thành công


----
* Festival mỹ thuật trẻ, khai mạc ngày 28-11, tại Trung tâm triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, số 2 vân Hồ, Hà Nội, và sẽ kéo dài tới ngày 9 tháng 12 năm 2011

1-Theo Heidegger, chữ techne của người Hy lạp được họ dùng để nói về nghệ thuật, hoàn toàn không đơn thuần là một chữ có nghĩa kĩ năng, hay kĩ thuật. Hơn thế, nó còn là một mẫu nhận thức. Trước khi biết ta phải thấy đã, có nghĩa là phải hiểu những gì đang có ở đó. Do vậy, techne, trong vai trò là một nhận thức được nghiệm trải theo kiểu của người Hy lạp, chính là một sự làm cho yếu tính được lộ ra ngoài, tức làm cho bản chất bị che giấu của sự vật được khai mở. Nhìn từ góc độ này, techne (nghệ thuật) không hề hàm chỉ đơn thuần một hành vi khéo léo.Vì lẽ đó, sáng tạo phải có nghĩa làm cho điều gì đó từ bên trong xuất hiện ra ngoài, hiển lộ ra [Nguồn gốc của tác phẩm nghệ thuật ( the origin of the work of art) , trong Thi ca, ngôn ngữ, tư tưởng (Poetry, language, thought) Martin heidegger, tr.57-58, bản tiếng Anh do Albert Hofstadter dịch và giới thiệu, Harper and Row xuất bản năm 2001]

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011

Hoạ sĩ Lê Kinh Tài và những con Tò he*


Một tác phẩm của Lê Kinh Tài trong triển lãm "Tò He"


Thật sự là cái tên triển lãm “ Tò he” ( triển lãm cá nhân lần thứ 8) của hoạ sĩ Lê Kinh Tài đã gợi cho tôi rất nhiều suy nghĩ có tính bản thể học về công việc của một hoạ sĩ như anh. “Tò He” là tên gọi một đồ chơi dân gian cho trẻ em. Các đồ chơi này, thường là các hình người, thú, hoa hay các nhân vật cổ tích, được nặn bằng bột gạo, sau đó được tô nhiều màu sặc sỡ. Trong quá khứ, những nghệ nhân nặn Tò he thường chỉ xuất hiện vào các dịp lễ hội, đặc biệt là vào dịp tết trung thu ( tết dành cho trẻ em).

Đặt tên cho triển lãm của mình là “Tò he”, hẳn ít nhiều Lê Kinh tài cũng muốn qua đó đưa ra một ẩn dụ cho công việc hoạ sĩ của mình – một ẩn dụ mà ở đây, các tác phẩm nghệ thuật và người nghệ sĩ được tham chiếu tới công việc và sản phẩm của một nghệ nhân dân gian, tức người không hề đứng biệt lập trước cuộc đời, mà trái lại, đi vào cuộc đời, và bằng tài năng cùng sự sáng tạo của mình, đem lại niềm vui, trí tưởng tượng và niềm say mê cho chính cuộc đời

Không thể khác được, đứng trước loạt tác phẩm mới nhất này của hoạ sĩ Lê Kinh Tài, gồm 23 bức tranh (khổ lớn nhất 120cm x 500cm), và 9 tác phẩm điêu khắc (bản thân hoạ sĩ không hề muốn dùng chữ “tượng” cho loạt 9 tác phẩm điêu khắc này, mà anh muốn gọi chúng là 9 con “Tò he”), người ta không thể không trầm trồ, trước hết là ở khả năng lao động của hoạ sĩ, và sau nữa, quan trọng hơn cả, là chính các niềm hân hoan mà những tác phẩm ấy đem lại cho họ.

Chính ở đây, cái ẩn dụ có tính tận căn về vai trò của nghệ thuật- như thể một chiếc đũa thần, mà ngay khi chạm tới sự cảm thụ của người xem sẽ biến người xem đó thành trẻ thơ, đã được minh chứng rõ ràng. Trước thế giới đang ngày càng già nua và buồn chán này, trở thành trẻ thơ chính là một nhu cầu, thậm chí một đòi hỏi quyết liệt nhất cho chúng ta để có thể sống sót

Trở lại trẻ thơ, nói một cách nào đó, cũng chính là trở lại với khả năng ngạc nhiên mà chúng ta dường như đã quên mất, trở lại với năng lực nhận ra được các nhiệm mầu của đời sống, khả năng rung động sâu xa trước những điều mà khi đã lớn khôn, có lẽ chúng ta sẽ chỉ coi là những sự kiện thường nhật, và không để lại trong trí óc và tâm hồn chúng ta bất cứ dấu vết nào.

Trong những bức tranh và điêu khắc mới nhất của lê Kinh Tài, mầu sắc vẫn là mầu sắc, là những xanh, đỏ, vàng, cam, đen trắng, song, cũng giống như bột gạo đã không chỉ còn là bột gạo trong đôi tay của một nghệ nhân làm Tò he dân gian, những mầu sắc ấy cũng đã không còn chỉ là màu sắc đơn thuần. Chúng đã, theo một cách nhiệm mầu nào đó, rung vang, ngân lên, đôi khi hồn hậu, song cũng có khi giễu nhại, hài hước. Thậm chí ngay cả các con chữ được viết nguệch ngoạc lên trên mặt tranh, cũng đã bằng cách nhiệm mầu nào đó, tự chuyển hoá vai trò tạo nghĩa thông thường, để trở nên những yếu tố tạo hình, tạo sắc, mà nếu thiếu đi, các bố cục dường như sẽ không thể nào đầy đủ và tạo được ra nhiều niềm hân hoan đến thế.

Tuy nhiên ở đây, cái ẩn dụ “Tò he”, theo tôi cũng còn nên được đọc theo một góc độ khác, góc độ của một niềm-vui-ngoại-biên khi so sánh với thế giới đồ chơi hiện đại đang chiếm lĩnh toàn bộ không gian giải trí đương đại hiện nay.

Tôi rất muốn nhìn nhận tình thế ngoại biên của một nghệ nhân “Tò he” ở góc độ một chọn lựa, hơn là ở góc độ “một tình trạng bị động”. Cũng như thế, khi quan sát một hoạ sĩ, tức một kẻ sử dụng cọ vẽ, và vải tole để thực hành nghệ thuật trong thời điểm này, trên nền của một khung cảnh nghệ thuật Việt Nam đang diễn ra rất nhiều sự thay đổi, không chỉ về mặt nền móng cơ sở văn hoá xã hội, mà còn ngay ở các thủ pháp, phương pháp và công cụ thực hành nghệ thuật mới, hẳn chúng ta cũng có một cảm giác tương tự nào đó khi so sánh công việc ấy của người hoạ sĩ với công việc của một nghệ nhân nặn Tò he, và qua đó, có chút nhận định về một tình trạng “ngoại biên” của người nghệ sĩ này.

Câu hỏi đặt ra ở đây là vì sao, bất chấp thế giới đồ chơi hiện đại, tiện dụng, và sẵn có bán đầy trong các siêu thị, bất chấp các trò chơi ngày càng kịch tính trong các máy tính, đâu đây vẫn còn đó các nghệ nhân nặn Tò he xuất hiện nơi một góc đường nào đó trong thành phố, say mê nặn những con Tò he đầy màu sắc, và rồi xung quanh nghệ nhân ấy, vẫn có những đám trẻ em với ánh mắt háo hức, hân hoan và chứa đầy sự ngạc nhiên dõi theo đôi bàn tay khéo léo của người nặn Tò he. Câu trả lời ở đây vô cùng đơn giản. Bởi chính sự thừa mứa của các dạng đồ chơi hay trò chơi khác, vô cùng hiện đại, và được sản xuất hàng loạt, mà rồi chúng ta mới thấy nhu cầu cần thiết phải tìm lại bằng được niềm vui thơ ngây và trong veo của tuổi ấu thơ, tức niềm vui mà khi đứng trước nó, không phải chúng ta bỗng thấy vai trò của mình như một siêu nhân, cứu nhân loại hay thế giới ( như trong kịch bản thường thấy của các trò chơi điện tử), nhưng là niềm vui mà khi đứng trước nó, chúng ta chợt nhận thức đến sâu xa về khả năng ngạc nhiên của chúng ta trước những điều tưởng như vụn vặt và bình thường nhất, mà có lẽ lâu nay, vì vô minh, chúng ta thường đã lãng quên. Cũng ngay khi ấy, chúng ta cũng bắt đầu hiểu rõ rệt, và với lòng biết ơn rằng, chính nghệ nhân làm “Tò he” đã ý thức một cách rõ ràng về sự quan trọng của niềm vui đó trong thế giới này, và cũng vì lý do ấy, ông vẫn tiếp tục hiện diện lặng lẽ trong đời sống của chúng ta.

Các bức tranh và tác phẩm điêu khắc của Lê Kinh Tài, trong triển lãm “Tò he” lần này, theo tôi, cũng đã sở hữu được chính sức mạnh tạo ra được niềm vui thuần khiết như thế. Và nhìn từ góc độ ấy, cũng y hệt như một nghệ nhân dân gian, trong quá trình mải miết duy trì các niềm vui thuần khiết cho cuộc đời, đã cho thấy một sự chọn lựa chủ động để trở thành ngoại biên, để không bị nhoà chìm vào thế giới trò chơi hiện đại, tiện dụng, song vô cảm xung quanh, hoạ sĩ Lê Kinh Tài, trong quá trình mải miết lao động không ngơi nghỉ của mình, có lẽ cũng đã cho thấy phần nào cái chọn lựa chủ động để trở thành ngoại biên của anh, trước tất cả những gì có vẻ gọi là “hợp mốt”, song hoàn toàn giả tạo và vô cảm xung quanh anh

Và sự chọn lựa ấy của Lê Kinh Tài, ở trường hợp này, được minh chứng thuyết phục qua thế giới hình thể và mầu sắc tuyệt vời của anh, theo tôi thậm chí còn mang tính bản thể học của việc chỉ ra được ý nghĩa đích thực của niềm vui tận căn của con người, tức niềm vui chỉ có thể được đạt tới nhờ vào khả năng ngạc nhiên thơ trẻ của chúng ta, một khả năng mà, may mắn thay, có lẽ vẫn tiềm ẩn hiện hữu trong tầm hồn của mỗi chúng ta.



*Nguồn:
bài viết cho catalogue triển lãm cá nhân mang tên "Tò He" của hoạ sĩ Lê Kinh Tài tại Hà Nội ( khai mạc ngày 21 tháng 10, 2011, tại Viet Art Center)

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2011

“ Cuộc hội ngộ của các mạng không gian nghệ thuật châu Á”, 2011 | Asian Art Spaces Network Meeting 2011, a brief report

(please scroll down for English)


Hai chủ đề chính của cuộc hội thảo chuyên đề “Cuộc hội ngộ của các mạng không gian nghệ thuật châu Á”, 2011, tại Gwangju city là, 1/ Tìm cách kết hợp làm việc gữa các không gian này, và 2/ tìm cách trao đổi thông tin nghệ thuật giữa các không gian này. Có thể nói, sau Gwangju biennale 2002, mà lõi cốt của nó là một cuộc nhìn lại tầm ảnh hưởng, diễn ngôn và các cơ cấu hoạt động của toàn bộ các không gian phá cách khắp thế giới, đây là lần đầu tiên, một cuộc tụ họp cỡ lớn, quy tụ các không gian phá cách năng động nhất ở China, Indonesia, Malaysia, Japan, Taiwan, và Philippines, cùng các không gian nghệ thuật tại địa phương ở Korea đã được diễn ra.


Thị trưởng Gwangju đọc diễn văn chào mừng hội thảo

Cấu trúc của cuộc hội thảo chuyên đề này gồm hai phần. Phần 1 là các cuộc thảo luận nội bộ và thảo luận với công chúng, và phần thứ hai là một triển lãm mang tên Asian Arts Mobility, mà ở đó các không gian nghệ thuật tại châu Á và Korea sẽ giới thiệu về các hoạt động của bản thân thông qua các phim tài liệu.

1-Tại sao châu Á, tại sao Phá cách?


Giám đốc của không gian phá cách Loop (Seoul), Jin Suk Suh, trong bài phát biểu của mình, nhấn mạnh về đặc tính châu Á trong các diễn ngôn nghệ thuật đương đại thế giới hiện nay. Ông lưu ý về hai cách tiếp cận thế giới của hai mô hình châu Á và phương Tây, mà ở đó, đặc tính duy nghiệm, chủ biệt chính là đặc tính chủ đạo trong cách tiếp cận thế giới kiểu phương Tây, còn đặc tính siêu nghiệm, và chủ toàn chính là đặc tính chủ đạo trong cách tiếp cận thế giới kiểu châu Á. Chính hai cách tiếp cận này đã tạo nên toàn bộ góc nhìn vào thế giới của con người nói chung. Giám đốc của không gian phá cách Loop cũng nhấn mạnh vào tính ưu việt của góc nhìn chủ toàn trong cách tiếp cận thế giới kiểu châu Á, mà qua đó, đặc tính toàn thể và khía cạnh tinh thần của thực tại sẽ được nắm bắt trọn vẹn hơn cách tiếp cận thế giới theo kiểu phương Tây.

Dù hoàn toàn đồng tình với sự phân chia rất tinh tế của Jin Suk Suh về hai cách tiếp cận thực tại, dẫn tới hai kết quả khác nhau, cá nhân tôi vẫn có chút băn khoăn nhỏ về việc liệu thực sự có cái gọi là đặc tính châu Á hay đặc tính phương Tây hay không? Nhìn từ một góc độ lý thuyết, người ta cũng có thể đặt ra vấn đề rằng, bản thân cái gọi là đặc tính châu Á, và đặc tính phương Tây, cái Ta và cái Họ này, cũng chính là một sản phẩm thuộc mô hình Đông phương luận (Orientalism) thuộc phương Tây, và việc nhấn mạnh có tính bản chất luận vào châu Á, như một phản đề với phương Tây cũng có khía cạnh nguy hiểm của nó ở việc chính sự nhấn mạnh này sẽ đối mặt với nguy cơ rơi vào bản thân diễn ngôn của điều mà nó tìm cách chống lại.


Thảo luận với công chúng

Đây chính là ý kiến của nghệ sỹ Hong Ju, giám đốc của không Happy Imagination Studio ( Seoul). Nữ nghệ sỹ này đã cùng chia sẻ với ý kiến của chúng tôi, từ Ga 0, Việt Nam, về việc có lẽ chúng ta không nên nhấn mạnh vào cái đặc tính châu Á, nhìn từ góc độ bản sắc ở đây, mà nên đi xa hơn nữa, nhấn mạnh vào đặc tính nhân loại nói chung, được phân biệt bởi các đặc tính định phương khác nhau (different localities). Bởi đặt cơ sở trên tiến trình loại thải (exclusive process), các cách tiếp cận dựa trên diễn ngôn về bản sắc hay bản chất luận tất yếu sẽ đưa các hành vi diễn giải của con người vào một không gian đối đầu giữa Ta và Họ. Trong khi đó, bởi đặt cơ sở trên tiếp trình bao gộp ( inclusive process) , các cách tiếp cận dựa trên diễn ngôn về tính địa phương sẽ tất yếu đưa các hành vi diễn giải của con người vào không gian đối thoại miên viễn, không gian của sự mở rộng tầm nhìn. Chính trong không gian này, theo chúng tôi, sẽmở ra con đường mới, không chỉ cho nghệ thuật châu Á nói riêng, mà còn đề nghị một mô hình khác cho các cách tiếp cận nghệ thuật đương đại thế giới nói chung.

Cũng nhìn nhận vấn đề từ một góc độ tương tự, song đi sâu vào một phân tích có tính phê phán vào tiến trình kết mạng lưới nghệ thuật. Ade Darmawan, giám đốc của không giqan nghệ thuật Ruangrupa, (Indonesia), chỉ ra sự không hiệu quả trong các hành vi kết mạng lưới trước đây. Theo anh, hầu hết cách hành vi kết mạng lưới hoạt động trước đây đều có đặt cơ sở trên việc tạo cấu trúc chứ không hề cung cấp các nội dung và chủ đề diễn ngôn mà các thành viên trong mạng lưới có thể chia sẻ và phát triển. Từ điểm nhìn này, anh đề ra một cách kết mạng mới, đó là cách kết mạng đặt cơ sở trên việc cấu tạo diễn ngôn và nội dung chung, để làm các mạng lưới trở nên các think-tank, nơi mọi thành viên đều có thể chia sẻ, thảo luận, thương thỏa, tranh cãi và qua đó tạo nên chủ đề diễn ngôn chung. Theo anh, chính mạng lưới kiểu này sẽ trở nên một bệ đỡ mở ra một đồ bản về những chủ đề cần thiết và thích hợp trong xã hội đương đại châu Á, và phát triển một diễn ngôn bao quát hơn qua việc sản xuất, chia sẻ, và phân bố tri thức nhờ vào các thực hành nghệ thuật, tức điều có thể trở nên sự đóng góp quan trọng cho khu vực.

Hu Fan, cựu sinh viên văn chương, hiện là giám đốc của một không gian nghệ thuật đương đại quan trọng, Vitamin Creative Space, có trụ sở ở cả Guangzhou, và Beijing, China, lại lưu ý về bản chất của không gian phá cách. Theo anh, không gian phá cách không (chỉ) là một không gian vật lý. Hơn thế, nó là một không gian tinh thần và tâm lý. Anh lưu ý về khía cạnh “khí vận sinh động” của một không gian phá cách. Điều gì làm cho một không gian cụ thể trở nên một không gian phá cách? Làm thế nào tạo ra năng lượng phá cách trong một không gian cụ thể trong các mối quan hệ đa tầng nơi chính không gian ấy?. Phát biểu của Hu Fan thật ra đã nhấn mạnh vào các đặc tính cốt lõi của các không gian phá cách, đó là đặc tính vận động liên tục, đặc tính gắn chặt với các nhu cầu hiện đương, đặc tính ràng buộc chặt chẽ với thực tại của mọi không gian phá cách nói chung. Phát biểu này của Hu Fan dường như được minh họa rất hoàn hảo bởi phát biểu của Jennifer Teo, giám đốc của Post-Museum (Singapore). Dù đã rất ấn tượng bởi các hoạt động trước đây trong không gian của Post-Museum, mà tiền đề của nó là nhóm nghệ sĩ p-10, chúng tôi còn ấn tượng hơn khi Jennifer, khi kết thúc phần phát biểu của mình cho biết hiện tại Post-Museum không có địa điểm cụ thể, có nghĩa rằng, không có không gian vật lý. Và tình trạng nowhere này của Post-Museum, theo Jennifer, sẽ kéo dài cho tới khi nào cô và các đồng sự của mình tím được lý do cần thiết để phải có một không gian vật lý.


thảo luận nội bộ

Có thể nói rằng, chúng tôi hoàn toàn chia sẻ với ý tưởng này của Jennifer Teo về việc liệu có cần phải có một địa chỉ vật lý hay không để có thể tạo ra được một không gian phá cách- theo cách nhìn nhận của Hufan. Tôi nhớ lại hồi năm 2003-2005, khi tôi còn chung nhóm hoạt động có tên là a little blah blah với hai nghệ sỹ là Motoko Uda và Sue Hajdu. Trong toàn bộ khoảng thời gian này, a Little Blah Blah hoàn toàn không có địa chỉ cụ thể. Tất cả các hoạt động của a Little Blah Blah đều, hoặc là sử dụng các địa điểm công cộng như quán coffe, nhà văn hóa, gallery, hoặc các địa điểm riêng tư như nhà riêng của các thành viên. Phải nhấn mạnh rằng các hoạt động của nhóm ngày ấy là vô cùng đa dạng, từ việc tổ chức mời nghệ sỹ nước ngoài talks, workshop, và thậm chí tham dự residency, cho tới tổ chức triển lãm. Như vậy, có thể nói, điều xác lập nên không gian phá cách rõ ràng không chỉ là một không gian vật lý cụ thể, mà quan trọng hơn, chính là viễn kiến và sự thông hiểu địa phương của chúng. Chính cái viễn kiến và sự thông hiểu địa phương mới là thứ tạo ra cho không gian phá cách cái “khí vận”, và qua đó, sinh ra “năng lượng phá cách”, nói cách khác, sinh ra khả năng hòa mình vào thực tại cũng như khả năng di chuyển không ngưng nghỉ trong các mo-ment đương đại của đời sống. Theo tôi, chính khả năng hòa mình vào thực tại cũng như khả năng di chuyển không ngưng nghỉ trong các mo-ment đương đại của đời sống mới tạo nghĩa được cho một không gian phá cách, có nghĩa là, mới làm cho một không gian vật lý trở nên một không gian phá cách chứ không chỉ là một nơi trưng bày thông thường của các vật thể nghệ thuật.

Một đặc điểm rất rõ rệt mà chúng tôi nhận ra qua các bản trình bày của rất nhiều không gian phá cách tại Korea và châu Á khác, như không gian Lost Generation tại Malaysia, không gian Lost Project tại Philippines, không gian Ruangrupa, Indonesia, chính là đặc tính đặt cơ sở trên các hoạt động công cộng và thông qua các dự án của chúng. Như Yeo, giám đốc của Lost Generation, Malaysia phát biểu “ nếu công chúng không đến với nghệ thuật đương đại, chúng tôi sẽ đến với công chúng”. Không cần phải nói rằng Ga 0 Việt Nam hoàn toàn chia sẻ với ý tưởng này của Yeo. Thật sự là, trong những năm gần đây, đã xuất hiện một quan điểm thực hành nghệ thuật mới trong phạm vi các không gian phá cách ở châu Á, mà trong quan điểm nghệ thuật ấy, nghệ sỹ không chỉ còn là một nhân vật thuộc giới nghệ thuật, trái lại, họ còn đã nhận lãnh vai trò mới của một nhà thực hành văn hóa. Trái với xã hội phương Tây, nơi mà các cơ sở hạ tầng về văn hóa, nghệ thuật và giáo dục nghệ thuật đã tiến tới một tầm mức ổn định và phát triển cao, nhờ đó, các chẩn mực văn hóa nghệ thuật được xác lập và tham chiếu đầy đủ, tại châu Á nói chung, và nhất là tại khu vực Đông Nam Á nói riêng, có lẽ trừ China, Japan, và Korea, các cơ sở hạ tầng về văn hóa, nghệ thuật và giáo dục nghệ thuật, đang thiếu thốn trầm trọng.

Lấy Việt Nam làm thí dụ. Cho tới hiện tại, các trường nghệ thuật ở Việt Nam, dù đã có một số ít thay đổi trên bề mặt, nhìn chung, vẫn đặt cơ sở trên một khung giáo dục cũ xưa, bắt nguồn từ thời thực dân, có kết hợp với các quan điểm mới về chủ nghĩa hiện thực XHCN. Để phân tích về cơ cấu giáo dục này thì sẽ khá dài dòng, tuy nhiên, điểm cốt yếu ở đây cần phải nêu ra là, chương trình giáo dục tại các trường nghệ thuật ở Việt Nam, cho tới hiện tại, vẫn đặt cơ sở trên sự phân biệt Mỹ Thuật và Nghệ Thuật Ứng Dụng theo kiểu Kant. Mô hình này, dù đã có kết hợp với các quan điểm sau này về chủ nghĩa hiện thực XHCN, hay gần đây, với các hình thức nghệ thuật mới như video, song bởi về bản chất, nó đặt cơ sở lý thuyết trên quan điểm nghệ thuật như sự mô phỏng, có từ thời Hy lạp, hay cơ sở mỹ học (không đầy đủ) của Kant, thế nên, các nghệ sỹ trẻ khi ra trường, nếu tìm cách tiếp cận với nghệ thuật đương đại, đặt cơ sở trên tính ý niệm và tính phản tư, phê phán, sẽ phải đối mặt với những khó khăn lớn của việc áp dụng những gì mình được dạy vào thực hành nghệ thuật.

Về mặt công chúng địa phương, việc hoàn toàn thiếu thốn các bệ đỡ giúp họ có thể làm quen và hiều nghệ thuật đương đại như các bảo tàng đương đại, các sách báo nghệ thuật đương đại, tiếng Anh hay dịch tiếng Việt, các hình thức giáo dục kiến thức nghệ thuật đương đại thường thức, hay các không gian mở giữa nghệ sỹ đương đại và công chúng cũng đã đưa họ vào một ma trận của sự hiểu lầm về không chỉ ý nghĩa, mà còn thực hành của nghệ thuật đương đại trong đời sống của họ. Tình trạng này đã biến không gian nghệ thuật đương đại Việt Nam thành một không gian đối đầu mà ở đó công chúng có vẻ luôn cho rằng nghệ sỹ đang lừa đảo mình, còn nghệ sỹ có vẻ luôn cho rằng công chúng kém cỏi- không hiểu gì về việc họ làm.

Kết quả sau cuối là công chúng và nghệ sỹ đương đại Việt Nam hiện tại hình như đang trở thành hai biệt cư (ghetto), mà biệt cư này luôn xác định về biệt cư kia trên các thông tin sai và mang nặng tính suy diễn bởi hoàn toàn thiếu đi sự đối thoại có phê phán được khởi hoạt từ các công cụ đối thoại có hiệu lực

Tình trạng này theo tôi hoàn toàn không chỉ là một tình trạng của duy nhất Việt Nam, mà còn ở các xã hội nơi nghệ thuật đương đại là một thực hành có tính du nhập theo quá trình hiện đại hóa thông qua các biến cố thuộc địa hay tiến trình hậu thuộc địa. Chính ở tại các xã hội này, các không gian phá cách phải đối mặt với các thách thức lớn về mặt nhận thức xảy ra giữa các thực hành của chúng và sự tiếp nhận của công chúng địa phương. Tuy nhiên, chính trong những thách thức, mà các cơ hội mới mẻ sẽ được mở ra. Một trong những cơ hội đó chính là cơ hội để bước ra khỏi ghetto của bản thân và tham gia vào trong đời sống ở các cấp độ cơ sở nhất của nó, tức các cấp độ đặt yếu tính trên không gian trải nghiệm chứ không phải trên không gian nhận thức học.


Gwangju Kunsthalle, nơi diễn gia các cuộc thảo luận

Các ví dụ từ Ruangrupa, Post-Museum, Lost-Generation, hay Lost-project hoặc Vitamin Creative Space, etc, đều cho thấy rõ việc chính các môi trường mang tính trải nghiệm mới là các đóng góp quan trọng nhất mà các địa chỉ phá cách thuộc Nam Á này đang tạo ra cho các xã hội địa phương. Tuy nhiên chúng ta cũng không nên nhầm lẫn khi nghĩ rằng các môi trường trải nghiệm này chỉ có tính thuần túy giải trí. Để nhìn nhận một cách thấu đáo, có lẽ ta phải nhìn nhận rằng các môi trường trải nghiệm đó, do các địa chỉ phá cách này tạo ra trong quá trình dấn thân vào đời sống, chỉ là các cú pháp, để qua đó, đạt tới sự chia sẻ diễn ngôn về mặt nhận thức với công chúng địa phương. Thực tế cho thấy rằng, trong một văn cảnh thiếu vắng đi toàn bộ các cơ sở hạ tầng về mặt nhận thức học về nghệ thuật và văn hóa, việc khởi hoạt các thực hành chỉ thông qua cú pháp nhận thức học sẽ luôn thất bại bởi sự tồn tại song song của các chuẩn nhận thức văn hóa nghệ thuật khác nhau giữa không chỉ công chúng và nghệ sỹ, mà còn giữa nghệ sỹ và nghệ sỹ, công chúng và công chúng.Việc khởi hoạt các thực hành thông qua cú pháp nhận thức học có lẽ sẽ chỉ làm sâu thêm hố sâu ngăn cách giữa công chúng và nghệ sỹ, nghệ thuật và đời sống hiện đương mà thôi. Rõ ràng trong tình huống này, việc lựa chọn mô hình thực hành dựa trên cú pháp mang tính trải nghiệm, để qua đó đạt tới một nhận thức thông qua đối thoại với công chúng địa phương sẽ có nhiều lợi thế hơn, đặc biệt là trong phạm vi các khu vực văn hóa xã hội thuộc Nam Á. Ngoài các lợi thế về việc mở ra được một kênh đối thoại với công chúng, các địa chỉ phá cách thuộc Nam Á, khi sử dụng cú pháp mang tính trải nghiệm để khởi hoạt các hành vi của mình, sẽ còn có điều kiện để đi vào chính đời sống hiện đương, và từ đó, gặp gỡ, phát hiện, xây dưng các nội dung, hay các chủ đề diễn ngôn mới về văn hóa và nghệ thuật trực tiếp và trực thời

2-“ Cuộc hội ngộ của các mạng không gian nghệ thuật châu Á”, 2011, tiền đề mới cho sự hợp tác và chia sẻ thông tin

Trong bài nói của mình, Chan Dong Kim, phê bình gia nghệ thuật nổi tiếng, cựu giám đốc của Arko Art Center ( Seoul) đã nhấn mạnh về việc phải đưa ra một ý tưởng mới cho dự án kết mạng làm việc của các không gian phá cách châu á. Ông cũng cho biết, vào đầu thập kỷ 1990, các không gian phá cách tại Korea, hay các hành vi nghệ thuật của nó đã thiết lập bản thân như một hệ thống mới mẻ đồng thời cũng đưa ra các đề nghị mới cho nghệ thuật thuộc định chế. Tuy nhiên, vào thời điểm này, sự nhấn mạnh lớn hơn của các không gian phá cách không nằm ở việc đưa ra các đề nghị mới mẻ cho dạng nghệ thuật thuộc định chế, mà ở việc mở rộng các không gian nghệ thuật phá cách để cổ vũ các nghệ sỹ mới mẻ. Ông cũng lưu ý về việc nên diễn giải các chủ đề và thực hành của không gian phá cách châu Á trong chính hoàn cảnh thực tế của nó tại châu Á, chứ không chỉ trong mô hình chung có nguồn gốc từ phương Tây. Kết thúc bài phát biểu của mình, ông nhấn mạnh “ Dù không cần thiết phải phân biệt rạch ròi giữa Đông và Tây, điều quan trọng mà các không gian phá cách châu Á cần lưu ý là phải duy trì một quan điểm thoát khỏi các góc nhìn hay định niệm thực dân chỉ phản ánh môn Đông phương luận mà thôi. Một quan điểm cá nhân và triết lý nghệ thuật riêng của không gian phá cách sẽ là những gì tạo ra được nội dung thực sự cho nó”

Jin Suk Suh, giám đốc của không gian phá cách Loop (Seoul) đã đưa ra sáng kiến là một dự án lưu trữ thông tin cho các không gian phá cách châu Á. Theo ông, dự án này sẽ giúp các không gian phá cách ở Taiwan, Malaysia, Vietnam, Singapore, Indonesia, Japan, China, Thailand, Philippines, và Hongkong có thể chia sẻ thong tin về triển lãm, các dự án, và các ấn phẩm. Một trong những ý tưởng của ông về dự án chia sẻ thông tin này, mà chúng tôi rất đồng tình, là ý tưởng xuất bản và chia sẻ ấn phẩm. Các không gian phá cách châu Á, vào mỗi năm, sẽ xuất bản từ 1, đến 4 cuốn sách về một số chủ đề chung nhất định. Sau đó, sẽ trao đổi lẫn nhau các ấn phẩm đó của mình. Như vậy, trong vòng 10 năm, từ khoảng, chẳng hạn, 10 không gian phá cách khắp châu Á, mỗi không gian sẽ lưu trữ được khoảng từ 100-400 cuốn sách từ các không gian bạn, qua đó tạo nên một kho lưu trữ dữ liệu thông tin cho riêng mình. Cần nhấn mạnh rằng các thông tin được lưu trữ này không chỉ là các thông tin đơn thuần, mà bởi đều là những cuốn sách được xây dựng nên từ một số chủ đề chung, thế nên đều có tính diễn ngôn và lý thuyết/lý thuyết hóa. Chính vì lẽ đó, các thông tin ấy sẽ không chỉ tạo nên một kho dữ liệu đơn thuần, mà còn là cả một không gian nhận thức có tính phê phán, qua đó, tạo thành nguồn mạch chia sẻ tạo sinh và có tính so sánh, tạo nên một hệ thống hiểu biết thực sự về cả hai mặt thực hành và lý thuyết về nhau.

Nhìn ở góc độ lý thuyết, đề nghị của Jin Suk Suh theo tôi, chắn chắn đã là một đề nghị tạo nên một hệ thống dây mơ rễ má (rhizomic system) – thách thức với hệ thống cũ xưa đặt cơ sở trên cấu trúc tuyến tính. Hai triết gia Gilles Deleuze và Felix Guattari đã đề nghị ra một hệ thống quan hệ mới, mà các ông gọi là rhizome để cổ vũ cho tính đa nguyên và các kết hợp phi phân cấp, đối lập với các khung xương quan hệ và kết hợp kiểu cũ, mà ở đó nhấn mạnh vào các kết nối có tính thời gian, tính hai chiều, và cấu trúc tuyến tính của sự “tăng trưởng” – tức tất cả những gì là xương sống cho tư duy về sự “phát triển” thuộc phương Tây. Trong hệ thống dây mơ rễ má này, hoàn toàn không tồn tại mối quan hệ có tính phân cấp giữa trung tâm và ngoại biên. Nói cách khác, ở đây, tất cả đều là trung tâm và đồng thời tất cả đều là ngoại biên trong một chuyển động miên viễn của các kết nối đa hướng sẽ liên tiếp tạo nên các nội dung mới

Không cần phải nói rằng Ga 0 hoàn toàn đồng tình với ý tưởng này. Lý do chính yếu cho sự đón chào và đồng tình của bản thân tôi với ý tưởng của Jin Suk Suh nằm ở chính kinh nghiệm cá nhân của tôi, vừa trong vai trò là giám đốc nghệ thuật của không gian phá cách Ga 0, Việt Nam, vừa là một giám tuyển độc lập và nghệ sỹ. Thật sự là trong quá trình hoạt động nghệ thuật của mình, tôi đã luôn cảm thấy thiếu thông tin, không phải về nghệ thuật phương Tây, bởi dù sao, trong thời buổi toàn cầu hóa và internet này, và nhất là với sự hùng mạnh của ngành xuất bản và truyền thông phương Tây, các thông tin dạng đó không hề thiếu thốn, nếu không muốn nói là thừa thãi. Sự thiếu thông tin của tôi là về chính các không gian nghệ thuật gần gũi với mình nhất, trong cùng khu vực với mình, tức các không gian phải đối diện với những hoàn cảnh tương tự với Việt nam, và cũng phải tạo ra những nỗ lực sống sót trong thực tại tương tự với nỗ lực của các nghệ sĩ Việt Nam. Từ kinh nghiệm này, tôi thực sự hy vọng rằng ý tưởng của Jin Suk Suh sẽ sớm trở thành hiện thực.


Toàn cảnh cuộc thảo luận với công chúng

Ade Darmawan từ Ruangrupa, Indonesia, cũng đóng góp vào hội thảo với ý tưởng đề ra một nghiên cứu về việc nghệ thuật phương tiện truyền thông mới đã du nhập, và rồi thay đổi ra sao, không chỉ cách tiếp cận của các nghệ sỹ châu Á với thực tại, mà còn chính các thực tại văn hóa, xã hội tại châu Á. Trong vai trò giám đốc của Ruangrupa, một không gian nghệ thuật phá cách vô cùng năng động tại Indonesia, với các liên hoan video quốc tế rất có uy tín hai năm 1 lần, mang tên Ok Video, phải nói rằng ý kiến của Ade Darmawan là rất đáng lưu tâm.

Dĩ nhiên là cùng lúc cũng đã có rất nhiều ý tưởng khác được nêu ra, trong đó có các ý tưởng về việc giám tuyển các triển lãm chung, theo từng chủ đề nhất định, tức các chủ đề mà ở đó có sự chia sẻ chung của các nước châu Á, chẳng hạn như sự tác động của tôn giáo trong cái nhìn của nghệ thuật đương đại, vai trò của nghệ sỹ đương đại như một thực thể chính trị, xã hội trong không gian của các biến cố chính trị, xã hội thuộc châu Á, hoặc tác động của thời chiến vào thời bình, ở mọi góc độ vô thức, ngôn ngữ là ra sao, và qua đó, tạo ra những ảnh hưởng gì với đời sống thực tại của con người, etc.

3-Kết luận

Cuộc hội thảo, dù rất ngắn ngày, phải nói đã được tổ chức hoàn hảo. Tất cả các chương trình đều được thực hiện trọn vẹn. Phần triển lãm được tổ chức tại Geumanamro Gallery, trực thuộc bảo tàng nghệ thuật Gwangju đã được tổ chức rất tốt. Mỗi không gian phá cách thuộc châu Á đều đã tham dự triển lãm bằng một video giới thiệu về các hoạt động của mình. Ga 0, Việt Nam đã đem tới triển lãm bộ phim tài liệu ngắn, “Graffiti in the alley, an art project, a real life”, giới thiệu về dự án mới nhất của ga 0.

Để kết thúc bài review ngắn, và còn xa mới là đầy đủ này, tôi xin được trích lời của bà Jeongsuk Nam, giám đốc của mạng không gian nghệ thuật châu Á, giáo sư thỉnh giảng tại đại học Sungkyukwan.

“một giấc mơ chỉ một người mơ thì sẽ mãi chỉ là huyễn tưởng, song một giấc mơ được chia sẻ bởi nhiều người sẽ biến thành một hy vọng khổng lồ”

Đúng như vậy, theo tôi, cuộc gặp gỡ đầu tiên này giữa các không gian nghệ thuật châu Á, với các đề nghị cụ thể, với các cuộc thảo luận cụ thể, với các kế hoạch làm việc cụ thể giữa các không gian với nhau, đã không còn chỉ là một huyễn tưởng nữa, mà chắc chắn đã trở nên một niềm hy vọng mới cho tất cả chúng ta.





Như Huy

Ga 0 (www.zerostationvn.org)



----------


Click here to read English version of this report